Halloween Costume ideas 2015
Latest Post
Afamily An ninh - trật tự An Ninh Thủ Đô Ảnh Đẹp Ăn Ngon Âm Nhạc Ẩm Thực Báo Chí Báo Công An Nhân Dân Báo Dân Sinh Báo Đất Việt Báo Giao Thông Báo Hà Tĩnh Báo Mới Báo Nông Nghiệp Báo Tiền Phong Báo Tin Tức Báo Tuổi Trẻ BBC Bí Quyết Bí Quyết Khỏe Và Đẹp Biển Chết Biển Đông Biển Kỳ Anh Biển Vũng Áng Bizlive Bói Vui bóng đá Bùi Mạnh Hùng Cá Chết Cá Gỗ Cafebiz CafeF Cafekubua Cảm Xúc Cảm Xúc Kỳ Anh Cao Quang Vinh Chăm Sóc Da Châu Á Chia Sẻ Chiến Tranh Chính Trị Chợ Kỳ Anh Công An Kỳ Anh Cộng Đồng Mạng Công Nghệ Cù Lú Cung Hoàng Đạo Cuộc Sống Cư Dân Mạng danviet.vn Dạy Con Dân Ca Nghệ Tĩnh Dân ca Ví giặm Dân Trí Diễn Đàn Diễn Đàn - Chia Sẻ Dinh Dưỡng Du Học Du Lịch Đại Kỷ Nguyên Đàn Ồng Đảo Sơn Dương Đặc Sản Kỳ Anh Đèo Ngang Đẹp Đẹp + Đẹp Mãi Kỳ Anh Địa Danh Kỳ Anh Điện Ảnh Đọc & Suy Ngẫm Đông Yên Đời Sống Eva Facebook Formosa Genk Gia Đình Giadinh.net Giải Trí Giáo Dục Giáo dục Kỳ Anh Giáo Dục Việt Nam Giao Thông Giới Tính Giới Trẻ Góc Chuyên Gia Góc Con Gái Góc Của Nàng Góc Nhìn Gương mặt Kỳ Anh Gương Mặt Trẻ Hà Chương Hà Tĩnh Hạnh Phúc Hay Hẹn Hò Hoa Hậu Hoành Sơn How To Hội Đồng Hương Kỳ Anh Hôn Nhân HUMANS OF KỲ ANH Huyện Kỳ Anh Infonet iSenpai Japan Times Kênh 14 Khám Phá Khoa Học Khoẻ Khỏe+ Khu KT Vũng Áng Kĩ Năng Mềm Kiến Thức Kinh Doanh Kinh Tế Kỳ Bắc Kỳ Giang Kỳ Hà Kỳ Hoa Kỳ Hợp Kỳ Khang Kỳ Lạc Kỳ Lâm Kỳ Lợi Kỳ Nam Kỳ Phong Kỳ Phương Kỳ Sơn ký sự pháp đình Kỳ Tân Kỳ Thư Kỳ Thượng Kỳ Trinh Kỳ Văn Kỳ Xuân Làm Đẹp Làm Giàu Làng Nghề Lao Động Lê Quyết Diễn Lịch sử Mai Phương Mạng Xã Hội Mầm Nhỏ Mẹ - Con Menzine Mẹo Chữa Bệnh Món Ăn & Sức Khỏe Môi Trường Mới Lạ Mùa Đông Mực nháy Nghệ Sĩ Nghiên Cứu Lịch Sử Ngô Sỹ Ngọc Ngôi sao Nguyễn Ngọc Anh Nguyễn Tiến Chưởng Nguyễn Xuân Lộc Ngư Dân Kỳ Anh Người Đô Thị Người Đưa Tin Người Kỳ Anh Người Lao Động Nhà Quản Lý Nhạc Biển Chết Nhạc Kỳ Anh Nhật Bản Nhịp Sống Trẻ Nikkei Asian Review Ô Tô Phan Đình Hoàng Quảng Phan Quang Phóng Pháp Luật Pháp Luật TP HCM Phim phong cách Phố Voi Phụ Nữ Phụ Nữ & Gia Đình Phụ Nữ Sức Khỏe Phường Kỳ Thịnh Qua Đèo Ngang Quan Hệ Quốc Tế Quang Tiến Quân Sự Quê Choa Xấu Xí Quốc Tế Rong Rêu (Võ Xuân Tùng) Rôn Vinh Sách Hay sáng tạo saostar Sex SGGP Online Soha Sống Sống Khỏe Sông Quyền Suy Ngẫm Sức Khỏe Sức Khỏe - Y Tế Sức Khỏe & Đời Sống Tạp chí Phái Đẹp ELLE Tạp Chí Sức Khỏe Tâm Sự Tết Quê Thành Công Thanh Niên Thanh Niên Online Theleader Thế Giới Thể Thao Thể Thao Văn Hóa Thị xã Kỳ Anh Thông Tấn Xã Việt Nam Thông Tin Từ Thiện Thơ Biển Chết Thơ Quê Hương Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Thời Sự Thời Trang Thương Về Miền Trung Tia Sáng Tiến Điển Tiền Phong Tiếng Nghệ Tĩnh Tín ngưỡng Tin Tức Tin Tức Kỳ Anh Tinh Hoa Tình Yêu Tóc Tôn Giáo Trần Hồng Quân Trần Khánh Cẩm Trần Xuân Tiến Tri Thức Trẻ Trí Thức Trẻ Tri Thức Việt Nam Trung Quốc Truyện - Bút Ký ... Trường Cấp III Kỳ Anh Trường THPT Nguyễn Huệ Tuổi Trẻ Tuổi Trẻ Online Tuyển Sinh Tư Liệu Tư Liệu - Tra Cứu Ung Thư Văn Hóa Văn Hoá Truyền Thống Video Video - Ảnh Video Sức Khỏe Vietfuture Vietnamfinance Vietnamnet VietQ VnEconomy VnExpress Võ Tú Võ Xuân Hùng VOV Vov.vn VTC News VTV Xã Hội XKLĐ Y Học Cổ Truyền Y học thường thức Y Tế Yêu Zing

Đi học rành sướng rồi rô.
Mọi hồi khổ. Ăn rồi đi dự trâu, bít cỏ, đi củi mút lạc mút khoai, cứ rứa mụi tuổi mần mụi công. Cho nên nghe được đi học cấy là mờng như đi cày trời nắng được lon bò húc.

Nhưng đó là đi học rồi, chờ hết hè để đến ngày khai giảng năm tiếp theo, để khỏi đi dự trâu. Còn bắt đầu đi học lớp một thì hại té đấy. Mềnh nhập học sau bọn trửa xóm mấy ngay. Nhà ghin trường, rứa là thằng bạn dận đến. Cặp hồi nớ là cái bao đợng xà phòng, nhét vưa quyển sách, quyển vở vì cấy bảng. Cô chưa vô, mềnh rầy úp mặt xuống bàn. Cô vô cạ lớp đứng mềnh vận ngồi úp mặt. Cô kêu tên bạn mới mềnh vận rầy, khung dám ngước dậy. Thằng bạn ngồi bên đập vai nói, cù lú cô kêu mi tề, hại cấy chi mi, to như trâu rồi đưng hại, đúng là đồ quẹt khu. Mềnh tức quá, quên đưng ngồi mô, ngước dậy nói oang oang, tau khung hại, cù hại mô, mà tau rầy, rầy đấy cả quần nì. Rứa là cả lớp được trận cười nít cạ mồm.


Mới đầu à rứa chứ mụt thời gian nựa, thì nghịc như trâu sổ ràn. Sáng đi học quần áo chỉnh tề, chớ nghe trống đành tùng tùng cấy là có cầy kiểu cổi quần dài vắt lên cổ, ôm cặp nựa là chạy một nghỉn về nhà. Hồi nớ có tật chặn đàng lấy phấn viết. Nhà mềnh ở ghin trường, kêu là dân thụ đô. Mấy xóm khác ngái toàn hại xóm mềnh.

Ra cổng trường dân xóm mềnh mấy thằng đứng một đống, ngông coi thằng mô hiền hiền là chặn lại. Bọn mềnh chặn một thằng lại, mi đưa phấn đây mì được đi qua. Thằng nớ nói, phấn tau có mô mà đưa chù mi. À, thằng ni láo bây ơi, mi khung hại dân thụ đô à. Thằng nớ nói, hại cít chi. Bọn mềnh nói tau kêu eng choa ra, cha choa ra cắt cu mi. Thằng nớ nói, rứa tì tau kêu cả dòng họ ra cắt cu bây. Bọn mềnh nói, nhà mi ngái, kêu ra tận nơi choa đạ đập mi bể trốc rồi, móc mắt mi rồi. Thằng nớ bắt đầu hại nói, ùi rứa à. Rứa ẻ u nựa, quẹt khu vô nựa, bây lục ì ni, bây lấy ì nì. Rứa là bọn mềnh xúm vô lục cặp lục bâu để tìm phấn, có thằng vằn phấn dấu ở cả lưng quần. Mặc quần xeng, lột ra lưng quần trắng tinh. Lột xong bị đuổi đi, thằng nớ cả đi cả chạy vừa kéo quần vừa quẹt nác mắt, vừa kêu về tau méch cha choa, bọn bầy dân thụ đô nhớ mặt đó, ăn kít choa ì, ăn cít ì nì. Huhu.  hii. Nghị thương sình gớm. Hồi nớ phấn quý... như vàng.


Nhắc phấn thì khung thể quên bảng. Nhà nghèo toàn bảng tự mần. Nhít là cái méng chùi bảng. Cạo lụ nghẹ nồi, đùm vô một mènh vải, khoan cái lộ nữa buộc vô bảng, đến khi lau rảy vô ít nác nựa. Có lần mềnh mới được mua cái áo trắng mới đi học. Ra về cầm kiểu chi mà cái ménh chùi hần trật ra, lụ nghẹ bôi lên một áo trắng. Mềnh hại bố đập. Trốn ra khe ngồi giặt. Khung có xà phòng, càng giặt nó loe ra cả áo. Chao ui, khi nớ lại hại lử i, rứa là khung biết mần răng ngồi khóc đậy sự ì. Nhà thì nghèo mua được cấy áo trắng để đi học. Kiểu chi về cụng bị đập nát khu. Mềnh lang thang mại, túi mì dám về nhà. Nhưng mà về thì ngài đánh lổ, khung mặc áo. Áo nhét ngoài bụi tre. Vô mẹ mềnh hỏi áo mô, mềnh bà láp áo bị ăn trộm. Mẹ nói răng mà trộm. Mềnh nói con ngồi học ngủ rục, đứa mô hần cổi áo khi mô khung biết. Mẹ nói mi đừng cù bà láp, xóm ni khung ai bả láp bằng mi, áo à mô rồi thì liệu hồn mà lấy về đây, khung là túi ni ra mà ngủ vì trâu. Mi cù đi lầy không? Mẹ tiếc áo điên tiết lên ra dạy xà lau bẻ roi. Mềnh chộ roi xà lau là quắn đít lên. Roi xà lau mà không bẻ đọt, phít vô khu thì đau tận tết. Mênh vừa chạy vừa khóc nói, mẹ ơi, huhu để cun đi lấy, đừng cù đập, đừng cù đập nựa, con trừa rồi, huhu.....

Rứa đó, mà qua hết rồi. Cuộc đời đã qua của quê ta, nghèo khổ mà vui mà ý nghĩa. Đời mô mà tìm lại được nựa, phải khung?

Nhân các cháu khai giảng,  viết vài méng rứa thôi. Ai có kỵ niệm chi thời nhỏ đi học, kể nghe với.
Cù Lú 04/09/2015



(Người Kỳ Anh) Đứa con gái ngồi nói chuyện điện thoại với thằng bồ mà xưng hô chồng chồng vợ vợ như thật, thằng bố đi nhậu về mặt đỏ gay giật cái Iphone 4 ném cái đạch xuống sân vỡ tan. Con nhỏ sững sờ rồi oà lên tru tréo, con mẹ ngồi bên bảo : Tau đã van rồi mi nỏ nghe tau.

Thằng bố đi vô nhà còn hậm hực quay ra : Tau báo cho mi biết, nỏ học cho nên nghề để đi thì tau giết, hơn nửa tỉ của tau nỏ phải ít mô mồ.

Con nhỏ kêu : Con nỏ đi mô cạ, nỏ học hành chi cạ, Ai muốn đi thì tự đi mà học. Nói rồi nghúng ngẩy bỏ đi.

Thằng cha : Xương cha mi chớ, nỏ đi thì bước ra khỏi nhà tau mau. Đàng quang nỏ đi chui vô bụi rậm, mi coi chừng tau, tau bỏ ra mấy triệu là giang hồ nó đập cho thằng nớ hư người (ý nói thằng bồ con nhỏ).

Con nhỏ chạy vô nhà xếp đồ vào túi xách, con mẹ cuống cuồng chạy theo năn nỉ ỉ ôi.

Hỏi thằng cha :
Chứ nó không muốn đi mà mầy ép làm gì ? Không học chữ thì tìm cái nghề cho nó học ở đây cũng được chứ sao ?

Nó nói : Tiền đã chồng gần 30 ngàn cho người ta lo con nhỏ đi Anh rồi, ở đây đi làm lương tháng ba triệu lấy kít mà ăn. Chưa kể ở bên này rồi lại phải nuôi cháu ngoại hay sao. Yêu đương chi mới tí tuổi đã chồng chồng vợ vợ. Mà thằng tê cũng tử tế gì, cấy loại tài xế mà nghiện thì không chết sốc thuốc cũng chết trong tù thôi chứ nỏ hơn mô.

Chẳng biết câu chuyện nhà nó có kết cục tốt lành hay không nhưng nghe chừng rất khó. Dạy con là cả một quá trình từ khi con mới chào đời cho đến lúc thành nhân.
Bên cạnh thuyết giảng suông thì tấm gương phản chiếu gia đình là điều quan trọng, măng không uốn giờ tre già đem uốn, không gãy thì cũng khuyết tật chứ chẳng thể nào tròn trịa như những giấc mơ.
Khó lắm thay ! Chẳng biết khuyên sao cho phải trong tình huống cụ thể này, mà cảnh này giờ không riêng gì gia đình của nó, giá mà con dân có thể đàng hoàng sống và làm việc tại xứ mình.

(Tác giả Trương Quang Thi)
Người Kỳ Anh




Hôm kia qua đèo Ngang ghé cái quán uống Cafe, hỏi mấy người dân địa phương về nguồn gốc cái địa danh này, ông chủ quán nói :
Đèo Ngang là chuyện của ngày xưa, hồi đó đang nghèo nên gọi nó là đèo Ngang, nay dân choa giàu rồi nên đổi tên nó thành đèo Nghếch.


Tại sao ???

Đèo nghếch là đếch nghèo nựa chớ răng ! Dân choa dừ tiền nhiều như quân Nguyên, đâu còn nghèo nữa mà gọi đèo Ngang ?

Tiền ở đâu mà dân giàu dữ vậy anh ?

Tiền đền bù ! Tàu nó sang đây lấy đất nên vứt cho mỗi nhà một cục. Nhà ít dăm bảy trăm (triệu), nhà nhiều dăm bảy tỉ, đời choa chưa bao giờ cầm trăm (triệu) bạc trong tay, vậy mà nông dân cầm một lần bằng nớ chú bảo có đang nghèo hay không ?
Dừ số đề phải cái Hà Nội chứ cái Vinh là nỏ nhởi (không chơi) rồi.
Xe máy thì Phú Tài phải chở vào tận đây, Yamaha Exciter một lần mua cả xóm, bia rượu nhậu tràn, cờ bạc có đủ tay thì nhởi (chơi), mà nỏ đủ tay hai thằng cũng nhởi với chắt (chơi với nhau). Chú thấy có nên đổi tên đèo không ?

Vậy hết đất rồi dân sẽ làm gì để sống hả anh ?

Choa nỏ biết ! Chắc đi ăn trộm, nỏ được nữa thì quay lại mần thuê cho chúng chứ răng chừ. Nhưng đó là chuyện của tương lai, mà dân choa thì ít nghĩ về tương lai lắm, hiện tại có nhởi cứ nhởi đạ, đời mấy mô hả chú (Cười).

Ôi dân tôi !

Chú thở dài mần chi, nỏ phải dân choa là nơi bắt nguồn mọi cuộc cách mạng đó ư ?
Ăn nhởi hết rồi thì bần cùng đi mần cách mạng chớ chi mô mà sợ (cười lớn), cấy chính quyền ni cũng từ bần cùng mà ra chớ có chi hoành tráng mô mồ, vì rứa ôn cha ngày xưa vẫn có câu : Cùng tất biến, biến tất thông đọ nờ.

Uhm ! Cũng có lý chớ chẳng phải giỡn chơi. Bần cùng thì đi lập đảng để cướp chính quyền. Haaaaa !

P/s : Không liên quan nhưng chẳng biết từ hồi nào ở một số vùng của Hà Tĩnh gọi cái hội trường thôn, xã là Hội Quán. Nghe cứ sặc mùi Tàu.

Người Kỳ Anh





Formosa xây tháp Bảo Lũy Tinh Thần không phép ở Vũng Áng

(NguoiKyAnh) - Nhà chức trách Hà Tĩnh mới đây lại tá hỏa khi phát hiện Công ty Formosa xây tháp Bảo Lũy Tinh Thần không phép. Theo biên bản vi phạm hành chính và ngừng thi công công trình vi phạm do Thanh tra Sở Xây dựng Hà Tĩnh lập ngày 8.12 thể hiện, dự án cổng tường chiếu và tháp Bảo Lũy Tinh Thần được xây dựng trong Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (gọi tắt là FHS) cao 32m đang được gấp rút xây dựng tại phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh. Tuy nhiên, công trình này lại chưa được sự đồng ý từ chính quyền và cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh.

Tin Bài Liên Quan:


Công trình tháp do FHS làm chủ đầu tư. Công ty cổ phần Xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình (trụ sở tại TP.Hồ Chí Minh) là đơn vị thi công. Tại thời điểm lập biên bản, lực lượng thanh tra phát hiện Công ty Hòa Bình xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng theo quy định.
Được biết, tòa tháp này được khởi công vào đầu tháng 10.2015, dự kiến cuối tháng 12.2015, công trình sẽ hoàn thành phần kết cấu. Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 6 tỉ đồng, 1 tầng, cao 32m, xây dựng bằng bê tông cốt thép.

Tại hiện trường, dễ dàng nhận biết từ xa hàng trăm mét có thể trông thấy tòa tháp cao đồ sộ, đứng sừng sững ngay ngã ba Kỳ Liên, án ngữ ở lối dẫn vào cổng chính của FHS.

Ông Trần Xuân Tiến, Giám đốc Sở Xây dựng Hà Tĩnh xác nhận việc Formosa xây tháp Bảo Lũy Tinh Thần không phép. Họ chỉ mới trình văn bản ý tưởng, kiến trúc của công trình. Việc cấp phép là trách nhiệm thuộc về Ban Quản lý khu kinh tế Hà Tĩnh.
Thanh tra Sở Xây dựng Hà Tĩnh đã yêu cầu Công ty Hòa Bình ngừng thi công công trình vi phạm, nếu không thực hiện sẽ bị đình chỉ thi công. Hạn đến ngày 14.12, những công ty liên quan phải có mặt tại Phòng Thanh tra của Sở để giải quyết vi phạm.

Trước đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã từng có văn bản yêu cầu doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh tháo dỡ miếu thờ xây trái phép ở Vũng Áng (huyện Kỳ Anh).
Ngày 4/6/2014, Formosa đã có văn bản gửi cơ quan hữu quan tỉnh Hà Tĩnh xin phép xây miếu thờ trong dự án Formosa... Ngay sau đó, dư luận đã lên án mạnh mẽ kiến nghị này của Formosa.
Ngày 11/7, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã ra thông báo số 510, không đồng ý với đề xuất xây miếu thờ của Formosa.
Đến ngày 25/10/2014, sau khi phát hiện Formosa xây dựng công trình miếu thờ trái phép, tỉnh Hà Tĩnh đã ra công văn yêu cầu Formosa đình chỉ việc xây dựng nói trên.

Người Trung Quốc xây bảo lũy tinh thần làm gì?

Thưa các bạn, từ 2 hôm nay câu chuyện cái “tháp tinh thần bảo lũy” đã lại làm nóng dư luận. Đây là tòa tháp có độ cao 32m và dự kiến sẽ hoàn thành nhanh chóng trong tháng 12 này. Vậy bảo lũy tinh thần là gì? Nó có ý nghĩa thế nào?

精神堡壘” =“Bảo lũy tinh thần”, “ Pháo đài tâm linh” hay “ Pháo đài thiêng liêng” là giá trị TQ xuyên suốt được giáo dục sâu rộng trong xã hội TQ liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Khởi nguồn của nó là vào ngày 30.12.1941 trong thời khắc nguy nan nhất của cuộc kháng chiến khi nhiều lần bị dìm trong biển lửa, tại ngã 3 trung tâm của Trùng Khánh họ đã sửa chữa kiện tạo nên một kiến trúc nổi tiếng bằng gỗ lấy tên là 精神堡壘. 

Bảo lũy này cao 7 trượng 7 thước lấy 77 là ý nghĩa kháng chiến, ở vị trí trung tâm của nó đặt một vại sứ lớn, phía trong được làm sợi bông và nhiêu liệu. Mỗi khi cần hiệu triệu tụ họp biểu tình… họ đổ rượu, cồn... khói lửa bốc lên ầm ầm rực sáng như pháo hoa tượng trưng cho chính khí hạo nhiên tự cường không ngừng nghỉ của dân tộc Trung Hoa.
Nguồn tại Trang Quan điểm Trung Quốc Xem thêm tại đây

Rất khó để biết bảo lũy tinh thần được xây ở Vũng Áng nhằm mục đích gì.  Dư luận cho rằng có thể là tháp liên lạc và cảnh báo cho hải quân của TQ ngoài khơi, đây như là trạm nhận và phát sóng liên lạc của khi có sự cố chiến tranh.. Không chỉ Sở Xây dựng mà Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh cũng nên quan tâm đến cái "Đài quan sát "này. Chúng tôi xin lưu ý là năm ngoái, Formosa đã lén xây miếu thờ và đến cuối tháng 3 năm nay, nó vẫn bị quây kín. Xem thêm tại đây.

Cập Nhật:
Hà Tĩnh đồng ý cho Formosa tiếp tục xây “cọc biển hiệu" và Tin NÓNG: TỈNH HÀ TĨNH ĐÃ SẴN SÀNG LÀM NỘI ỨNG CHO GIẶC TÀ...
Posted by HỘI ĐỒNG HƯƠNG KỲ ANH on 17 Tháng 1 2016

Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trích đăng những bình luận từ độc giả Tễu blog của tiến sĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện:
  • "Nói như phó ban kinh tế Hà Tĩnh nghĩa là họ có tiền ,họ mua đất thuê đất xong là họ cứ xây cứ trấn yểm không ai cản họ ! VÌ ĐÚNG QUY TRÌNH CỦA TRÊN QUY ĐỊNH ! dù có trúng long mạch ay không thì ở trên củng chẳng cần biết vì BÍ QUÁ RỒI ! HẾT TIỀN THÌ HẾT QUYỀN ! một thời kỳ bắc thuộc mới đả hình thành ,mật ước thành đô đang đè xuống nhân dân VN ! nhưng không sao đả có đảng lo .cứ lên google tìm sex .chân dài ,quán nhậu ,xe khủng ! eo thon ,lộ chíp ,ăn gì cho cho dai sức ! uống bia ở đâu ngon! còn việc nước đả có đảng lo ghế ngồi củng đảng lo luôn không đến dân các ông ,nên củng chẳng phải lo ! cứ sex ,cứ chân dài mà tìm !"
  • "Bí thư Hà Tĩnh không những cần phải cho out khỏi TƯ kỳ này mà cần phải bị cách chức. Làm cục nhân dân tệ to thì out cũng được rồi."
  • "Tháp này rõ ràng là một đài quan sát của bọn Tàu, từ tháp có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động của tàu bè, phi trường trong vùng vịnh, đó là điều tối kỵ cho an ninh của miền Trung . Vì sao lại được cấp phép xây trở lại? ai là người ký giấy phép này? Vấn nạn Tàu xâm lược dần dần từ biển vào đất liền đã quá rõ, dân chúng phẫn uất quá mà nhà nước cứ làm ngơ cho địa phương muốn làm gì thì làm, muốn bán gì thì bán hay sao. Nếu trung ương không can thiệp bắt dừng ngay viêc xây dựng thì chỉ có nghĩa là trung ương bao che, đồng lõa với bọn bán nước. Trung ương đảng, các lãnh đạo, quốc hội, các ông tự xưng là vì nước vì dân, chúng tôi yêu cầu các ông phải có thái độ quyết liệt đối với bọn phò giặc Tàu."
  • "Tôi chỉ muốn xác định sự thật: NẾU cái tháp đó ở Formosa Hà Tĩnh được tiếp tục xây, chắn chắn 'trung ương' đã có sắp xếp trước với bọn quan chức Hà Tĩnh. Và như vậy chẳng khác gì toàn bộ chúng nó từ từ dọn chỗ mời Tàu vào xâm lăng, việc này khẳng định Hiệp ước Thành đô là có thật. NẾU công việc xây này vẫn tiếp tục, chắc chắn nhũng phản đối bằng mồm của nhà nước ra Liên Hiệp Quốc mới nhứt chỉ là một động tác giả để lừa dân."
  • "Phản đối Hà Tĩnh cho phép bọn TQ xây dựng tháp biểu tượng tinh thần cũng như miếu thờ trong khu công nghiệp,cho thuê đất quá thẩm quyền.Đề nghị TW cần phải có chỉ đạo dẹp bỏ những việc trên,có như thế nhân dân mới lấy lại được phần nào nho nhỏ lòng tin,còn bằng không thì dân coi TW cũng như HT vậy"
  • ""Cổng chào" ch* gì mà cao chót vót thế. Đảm bảo bọn lãnh đạo Hà Tĩnh đã rủng rỉnh tiền ăn Tết Nguyên Đán (do Tầu cho) tới rồi. Một lũ bán nước!"
  • "Sao có những kẻ ngu ngơ như thế lại làm lãnh đạo thờ ơ với vận mệnh nước nhà đến thế. Giặc Trung quốc xưa nay đều rất xảo trá, phải cương quyết ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn xâm lấn của TQ  trên đất liền và trên biển. Tôi vô cùng thất vọng..."
  • "Đất nước VN hiện nay coi như là của riêng họ (cán bộ đảng viên )vậy thì họ muốn là gì thì làm , đó là quyền của họ ."
  • "Tôi không bênh vực chính quyền Hà Tĩnh, nhưng các bác cứ thử đặt mình vào địa vị bí thư hoặc chủ tịch Hà Tĩnh thì sẽ rõ. Liệu lãnh đạo Hà Tĩnh có dám tự ý đồng ý hay từ chối các yêu cầu của phía TQ không? Tôi cho là không. Chuẩn nhất là cứ xin ý kiến Bộ Chính trị rồi theo chỉ đạo từ “Trên” mà làm, gật hay lắc mà không hỏi ý kiến của “Trên” là bay ghế như chơi!"
  • "Thật là một điều rất đau lòng cho dân, cho nước, và thật phẫn nộ trước những kẻ tham lam, đớn hèn, nhu nhược, không còn biết phân biệt thế nào là đúng sai, lòng tự tôn và kiếp nô vong là gì nữa!"
  • "Tôi thách mấy quan Hà Tĩnh tìm được một Biển hiệu quảng cáo như vậy ở chính đất nước Trung Hoa to lớn chềnh ềnh. Nó là cái gì thì ai cũng hiểu, chỉ có các quan tham VIệt Nam thi vẫn cố tình giả ngô ngọng không biết vậy thôi. Đất nước Viẹt Nam sẽ ghi tên lũ bán nước Việt Gian chúng mày."


Người Kỳ Anh (tổng hợp)



NewVnNews - Cách đây 67 năm, vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, tai Paris – Thủ đô nước Pháp – Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã ra đời. Tuy nhiên sau hơn 60 năm đã qua, nhiều người trên thế giới vẫn không hề biết về sự tồn tại của bản Tuyên ngôn này.  Và ngày 10/12 hàng năm được Liên hợp Quốc chọn là Ngày Nhân quyền (Human Rights Day) để nhắc nhở mọi người trên thế giới hãy ý thức tôn trọng và hành động bảo vệ quyền con người dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Theo ông Nguyễn Gia Kiểng thế giới đã tiến một bước rất xa về nhân quyền. Vào giờ này chúng ta có thể lạc quan. Mặc dầu chúng ta có thể chưa thể hài lòng bởi vì quyền con người vẫn chưa được trọn vẹn tôn trọng, nhưng nếu so sánh với 67 năm về trước thì chúng ta đã tiến một bước rất xa. Phải nói là bản Tuyên ngôn này đã ra đời trong một hoàn cảnh rất khó khăn. Chúng ta cần nhắc lại hoàn cảnh  ra đời của nó. Đó là nó không được dự trù là sẽ có. Khi Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai sắp kết thúc vào mùa Xuân 1945, một số quốc gia đã họp lại tại San Francisco (Mỹ) để dự định thành  lập một tổ chức mới thay cho Hội Quốc Liên  đã tỏ ra bất lực trong việc phòng ngừa Thế Chiến II xảy ra. Mục tiêu của họ là thành lập một tổ chức - mà sau này chúng ta được biết là  Liên Hợp Quốc - với mục đích  chính là ngăn ngừa một cuộc thế chiến mới. Trong khi nghiên cứu soạn thảo bản hiến chương Liên Hợp Quốc có một số trí thức tập trung trong các tổ chức NGO (các tổ chức phi chính phủ), được mời tới vì uy tín cá nhân hay tổ chức của họ để làm tham vấn trong việc soạn thảo hiến chương cho Liên Hợp Quốc. Những vị này trong khi thảo luận đã nhận ra một điều là nguyên nhân đã đưa đến hai cuộc thế chiến – thế chiến thứ nhất và thế chiến thứ hai – là ở chỗ người ta đã quá đề cao vai trò của quốc gia; hầu như người ta chỉ biết đến các quốc gia thôi mà không biết tới một yếu tố cốt lõi là con người. Bởi vậy họ đi đến kết luận là lần này muốn tránh một thảm kịch mới cho thế giới thì phải đặt con người là trung tâm của mọi ưu tiên chính trị. Nói một cách khác phải đề cao một luồng tư tưởng chính trị đã có từ thế kỷ 16, 17 nhưng luôn luôn bị chèn ép nên không phát triển được. Đó là chủ nghĩa cá nhân theo đó cá nhân mới là đối tượng phục vụ chính; nhà nước chỉ là một phương tiện bảo đảm cho cá nhân phát huy khả năng của mình và đóng góp vào xây dựng xã hội. Vì nhận định như vậy nên họ đã cố gắng đưa ngay vào Lời Nói Đầu của Hiến chương Liên Hợp Quốc là phải tôn trọng các quyền căn bản của con người trước khi nói tới sự liên hệ giữa các quốc gia với nhau. Dần dần họ đã thuyết phục được một phần dư luận. Lúc ban đầu các quốc gia cũng không quan tâm lắm đến quyền con người. Lúc đó giá trị quan trọng nhất vẫn là quốc gia, là tổ quốc hay là giai cấp mà thôi. Ngay cả sự kiện bản tuyên ngôn này được ra đời cũng là kỳ công của một số trí thức. Phải nhớ lúc đó là đầu năm1945, họ phải chờ đợi đến cuối năm 1948, nghĩa là hơn 3 năm rưỡi sau, mới hoàn tất được bản tuyên ngôn. Bản tuyên ngôn này dù vậy chỉ có giá trị nguyên tắc thôi. Nó còn cần được bổ túc bằng những điều khoản cụ thể trong hai công ước sau này được gọi là Công ước về các quyền dân sự và chính trị và ước về quyền kinh tế xã hội và văn hóa. Để soạn thảo hai công ước này đã phải mất thêm 18 năm nữa. Cho tới năm 1966 mới hoàn tất xong. Tuy hoàn tất xong, những các quốc gia quan trọng nhất, hai siêu cường lúc đó là Liên Xô và Mỹ, không đồng ý. Mỹ thì biểu quyết bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập nhưng mãi đến năm 1977 mới ký hai công ước.  Còn Liên Xô thì vắng mặt trong khi biểu quyết bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và đến khi sụp đổ vẫn không ký thông qua hai công ước về quyền con người. Hoàn cảnh khó khăn như thế nhưng  ý niệm nhân quyền càng ngày càng lớn lên. Đến năm 1976, khi nhiều nước đã ký vào hai công ước về quyền con người, ba tài liệu Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập và hai công ước đính kèm được coi là luật quốc tế và từ nay có gia trị của công pháp quốc tế. Phải nói là chúng ta đã tiến một bước dài.
Liên Hợp Quốc ra đời như là một định chế để ngăn cản một cuộc thế chiến mới, để ngăn cản chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản không biến thành  thế chiến nóng. Bây giờ chiến tranh lạnh không còn là một nguy cơ nữa Liên Hợp Quốc bắt đầu có một vài trò mới là thăng tiến nhân quyền. Cho nên chúng ta thấy có một định chế mới là Rà Soát Phổ Cập Định Kỳ UPR như kỳ kiểm điểm tông quát năm 2014 ở Genève. Đây là một tiến bộ. Năm 2014 cuộc kiểm điểm phổ quát định kỳ trong đó Việt Nam phải trả lời, phải đưa báo cáo về nhân quyền. Cho tới ngày hôm nay khái niệm về nhân quyền là một khái niệm được nhìn nhận và được sự tôn trọng của mọi người, kể cả những người không thực hiện nó như các chế độ độc tài. Các chế độ này không còn dám phủ nhận nhân quyền như trước nữa. Họ chỉ có biện luận một cách lúng túng để trì hoãn việc thực thi nhân quyền mà thôi.

Phải nói về mặt tư tưởng đã có một thắng lợi lớn. Và ngay cả về mặt thực tế thì nhân quyền cũng đã trở thảnh ưu tư hàng đầu và trở thành áp lực đối với các chính quyền độc tài còn lại. Như vậy chúng ta nhìn nhận tiến bộ rất là lớn.
Nhưng bên cạnh những tiến bộ lớn cũng phải cảnh giác vì cũng có nguy cơ, đặc biệt đối với người Việt Nam, bởi vì khi nhân quyền đã trở thành giá trị phổ cập, đã được nhìn nhận như một giá trị tự nhiên thì người ta không còn cảm thấy nhu cầu phải đào sâu để hiểu rõ hơn nữa, trong khi đó người Việt Nam chúng ta có khuyết điểm là rất thiếu sót về nhận thức chính trị. Nhưng chúng ta không  thể bảo vệ một khái niệm khi chúng ta chưa  hiểu rõ được, chúng ta sẽ hành động một cách thiếu thuyết phục và thiếu hiệu quả.
Tôi xin nêu một vài ngộ nhận lớn mà chúng ta chưa vượt qua được.
Thứ nhất là ngộ nhận cho rằng nhân quyền khác với dân chủ trong khi hai khái niệm này là một. Nhân quyền là một vấn đề chính trị chứ không phải là một vấn đề từ thiện như người ta nghĩ.
Thứ 2 chúng ta cần phải gọi chính xác văn kiện ngày 10/12/1948 là Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập chứ không nên gọi là bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. "Phổ cập và quốc tế là khái niệm khác nhau. Sự lẫn lộn đưa tới hậu quả là một sai lầm không thể chấp nhận được. Khi nói Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền người ta coi nhân quyền là vấn đề giữa các quốc gia với nhau. Điều đó rất là sai. Vì nhân quyền là các quyền cá nhân. Chúng ta hãy đọc lại bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập. Không bao giờ họ đề cập đến quyền cuả các nhà nước. Họ chỉ đề cập quyền của các cá nhân mà thôi. Và vấn đề nhân quyền là một vấn đề phổ cập, nghĩa là một vấn đề mà mọi người, mọi định chế, mọi quốc gia phải tôn trọng ở mọi nơi, mọi lúc chứ không phải là một  vấn đề trong bang giao giữa các quốc gia. Khi chúng ta nói bản "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" vô hình chung chúng ta coi nhân quyền là vấn đề giao thiệp giữa các nước và như vậy mỗi nước có thể giải thích quyền con người một cách tùy tiện theo sở thích của mình. Điều đó tai hại.
Tôi cho rằng nguyên nhân là trí thức Việt Nam không đầu tư nhiều vào tư tưởng chính trị cho nên chúng ta đã dịch Universal thành ra "quốc tế" nhưng Universal không bao giờ là "quốc tế" cả, nó có nghĩa là "phổ cập" nghĩa là đúng mọi nơi mọi lúc. Dịch cái gọi là The Universal Declaration of Human Rights hay Déclaration Universelle des Droits de l'homme thành "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" là sai. Phải dịch là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập, nghĩa là  các quyền con người phải được hiểu như nhau và tôn trọng ở mọi nơi, mọị lúc chứ không phải là chuyện giữa các quốc gia với nhau. Các quốc gia không được tự tiện giải thích nhân quyền theo ý của mình. Tôi nghĩ gọi tên là "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" không chỉ là một sai lầm mà là một sai lầm nguy hiểm. Nhân cuộc nói chuyện này tôi đề nghị một lần cho tất cả chúng ta đổi lại cho đúng tên của nó, chúng ta gọi một cách chính xác là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập".

Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của của tất cả mọi người trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lí và hòa bình trên toàn thế giới.

Xét rằng: Việc xem thường và chà đạp quyền con người đã từng dẫn đến những hành động dã man, làm xúc động lương tâm nhân loại, việc xây dựng một thế giới trong đó mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi và nghèo đói phải được tuyên xưng như là ước vọng cao cả nhất của con người.

Xét rằng: Quyền con người cần được bảo vệ bằng pháp luật để đảm bảo rằng con người không bị bắt buộc phải sử dụng biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Các dân tộc tham gia Liên hiệp quốc đã tái khẳng định trong Hiến chương niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và phẩm giá của mỗi cá nhân, vào quyền bình đẳng nam nữ và đã quyết định thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như cải thiện điều kiện sống trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên hiệp quốc nhằm góp phần cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản khác.

Xét rằng: Một nhận thức chung về đặc điểm của các quyền và quyền tự do có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực thi đầy đủ cam kết nêu trên.

Nay, ĐẠI HỘI ĐỒNG [Liên hiệp quốc] long trọng công bố TUYÊN NGÔN VỀ NHÂN QUYỀN PHỔ CẬP như là tiêu chuẩn chung phải hướng tới cho tất cả mọi người và mọi quốc gia, để mỗi người, mỗi tổ chức xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, bằng con đường giảng dạy và học tập góp phần thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và quyền tự do và bảo đảm, bằng những biện pháp tiến bộ trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế, sự thừa nhận và thực thi một cách rộng khắp và hữu hiệu những quyền đó không chỉ đối với các dân tộc của các nước hội viên Liên hiệp quốc mà còn đối với các dân tộc thuộc quyền ủy trị của họ.


Điều 1:

Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi. Tất cả mọi người đều được tự nhiên phú cho lí trí và lương tâm và phải đối xử với nhau trong tinh thần bác ái.

Điều 2:

Mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay bất kì quan điểm nào khác, không phân biệt quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, đẳng cấp và địa vị xã hội khác, đều được hưởng các quyền và quyền tự do công bố trong Bản Tuyên Ngôn này.

Ngoài ra, không được phân biệt đối xử với con người trên cơ sở quy chế chính trị, pháp luật và địa vị quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó sống, cho dù lãnh thổ đó là độc lập, bị bảo hộ, không được tự trị hay bị những hạn chế nào khác về chủ quyền.

Điều 3:

Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể.

Điều 4:

Không người nào bị giữ trong tình trạng nô lệ hay mất tự do; chế độ nô lệ và buôn bán nô dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Điều 5:

Không người nào phải chịu tra tấn, bị trừng phạt hay đối xử một cách vô nhân đạo và có tính cách lăng nhục.

Điều 6:

Mọi người, dù ở đâu, cũng đều có quyền được công nhận tư cách pháp lí của mình.

Điều 7:

Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ, không có bất kì sự phân biệt nào. Mọi người đều có quyền được bảo vệ như nhau, chống lại mọi sự kì thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi sự khiêu khích dẫn đến kì thị như vậy.

Điều 8:

Mọi người đều có quyền đòi hỏi các tòa án quốc gia có thẩm quyền khôi phục một cách hữu hiệu các quyền của mình khi có các hành vi vi phạm các quyền căn bản do Hiến pháp và pháp luật quy định.


Điều 9:

Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ hay lưu đày một cách độc đoán.

Điều 10:

Mọi người đều có quyền như nhau trong việc được xét xử một cách công khai và công bằng bởi một tòa án độc lập và vô tư để xác định các quyền và trách nhiệm cũng như những lời buộc tội chống lại mình.

Điều 11:

Mọi người, khi bị truy tố trước pháp luật, vẫn có quyền được coi là vô tội cho đến khi tội lỗi của người đó được chứng minh theo luật định trong một phiên tòa công khai với điều kiện người đó được cung cấp tất cả các đảm bảo cần thiết cho việc biện hộ.

Không ai có thể bị kết án do đã thực hiện hoặc không thực hiện những hành động mà lúc đó luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi đấy là tội ác. Cũng không được áp đặt hình phạt nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc tội ác xảy ra.

Điều 12:

Không ai có thể bị can thiệp một cách độc đoán vào đời sống cá nhân và gia đình, cũng như bị xâm phạm về nhà ở, bí mật thư tín hay danh dự và tiếng tăm của mình. Mỗi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những sự can thiệp và xâm phạm như thế.


Điều 13:

Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong biên giới quốc gia.
Mọi người đều cóquy ền rời bỏ bất kì nước nào, kể cả nước mình và có quyền trở về xứ sở.

Điều 14:

Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm chỗ dung thân tại các quốc gia khác.
Quyền này không thể được áp dụng trong trường hợp bị truy nã thực sự vì phạm tôi không có tính chất chính trị hay do những hành vi đi ngược lại các mục tiêu và nguyên tắc của Liên hiệp quốc.

Điều 15:

Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
Không ai có thể bị tước bỏ quốc tịch hay bị tước bỏ quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:

Nam và nữ đến tuổi trưởng thành, không phân biệt chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo, đều có quyền kết hôn và lập gia đình. Nam nữ có quyền như nhau khi kết hôn, trong đời sống vợ chồng và khi li hôn.
Hôn nhân chỉ có thể được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên.
Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội và có quyền được xã hội và nhà nước bảo vệ.

Điều 17:

Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản, cá nhân cũng như tập thể.
Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18:

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng cũng như quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng của mình với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay trong chỗ riêng tư bằng cách truyền dạy, thờ phụng, và thực hiện các nghi lễ tôn giáo.


Điều 19:

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận; quyền này bao gồm quyền giữ quan điểm của mình mà không bị can thiệp và quyền tìm kiếm, nhận và quảng bá thông tin và tư tưởng bằng mọi phương tiện, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia.


Điều 20:

Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa.
Không ai có thể bị ép buộc tham gia vào bất kì hội đoàn nào.

Điều 21:

Mọi người đều có quyền tham gia quản lí đất nước của mình, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu được lựa chọn một cách tự do.
Mọi người đều có quyền như nhau trong việc nhận lãnh chức vụ trong các cơ quan nhà nước của mình.
Ý chí của nhân dân phải là nền tảng quyền lực của chính phủ; ý chí này phải được thể hiện thông qua các cuộc bầu cử định kì và trung thực, được tiến hành theo phương thức phổ thông và bình đẳng, bỏ phiếu kín hay bằng các hình thức bầu cử tự do tương đương khác.

Điều 22:

Là một thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an sinh xã hội và thực hiện các quyền thiết yếu trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua các nỗ lực của quốc gia và hợp tác quốc tế, phù hợp với cơ cấu và tài nguyên của mỗi nước để bảo vệ nhân phẩm và sự phát triển tự do của cá nhân mình.


Điều 23:

Mọi người đều có quyền lao động, quyền tự do lựa chọn công việc, quyền có các điều kiện lao động công bằng và thuận lợi và quyền được bảo vệ khỏi nạn thất nghiệp.
Mọi người, không phân biệt, nếu làm việc giống nhau thì đều được trả lương như nhau.
Mọi người lao động đều có quyền được nhận thù lao công bằng và thích hợp, đảm bảo cho bản thân và gia đình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm và được trợ giúp thông qua các phương tiện an sinh xã hội khác, khi cần.
Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24:

Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả quyền giới hạn số giờ làm việc một cách hợp lí và quyền được nghỉ định kì được trả lương.


Điều 25:

Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp bao gồm thức ăn, quần áo mặc, nhà ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác nhằm đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc cho bản thân và gia đình, có quyền an sinh xã hội trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già lão hoặc các trường hợp mất phương tiện kiếm sống khác vì những hoàn cảnh nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình.

Bà mẹ và trẻ em được quyền chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em, trong hay ngoài giá thú, đều được xã hội bảo vệ như nhau.

Điều 26:

Mọi người đều có quyền đi học. Học tập phải được miễn phí, chí ít là đối với bậc tiểu học và cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc. Các trường kĩ thuật và dạy nghề phải mở rộng cửa cho mọi người, các trường đại học cũng phải mở rộng cửa một cách bình đẳng trên cơ sở tài năng của mỗi người.
Giáo dục phải nhằm phát triển con người toàn diện và thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc, giữa các nhóm sắc tộc và tôn giáo và hộ trợ hoạt động của Liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình.
Cha mẹ có quyền ưu tiên trong việc lựa chọn hình thức học tập cho các con nhỏ của mình.

Điều 27:

Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, có quyền thưởng thức nghệ thuật, tham gia vào tiến trình phát triển của khoa học và hưởng thụ các thành quả của nó.
Mọi người có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của các tác phẩm khoa học, văn chương hay nghệ thuật mà người đó là tác giả.

Điều 28:

Mọi người đều có quyền được sống trong một trật tự xã hội và quốc tế, trong đó các quyền và quyền tự do được tuyên cáo trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện một cách đầy đủ.


Điều 29:

Mọi người đều có trách nhiệm đối với cộng đồng mà chỉ trong đó nhân cách của họ mới có điều kiện phát triển một cách tự do và toàn diện.

Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định chỉ với mục đích duy nhất là bảo đảm sự công nhận và tôn trọng các quyền và quyền tự do của những người khác, cũng như thỏa mãn các đòi hỏi chính đáng về luân lí, trật tự cộng cộng và phúc lợi chung của xã hội dân chủ.

Việc thực hiện các quyền và quyền tự do này, trong bất kì trường hợp nào, cũng không được đi ngược lại các mục đích và nguyên tắc của Liên hiệp quốc.

Điều 30:

Không một điều khoản nào trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được diễn giải như là sự cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân bất kì tham gia vào những việc hay có những hành động nhằm phá hoại các quyền và quyền tự do được tuyên cáo trong Bản Tuyên Ngôn này.

Phụ lục tác phẩm Chế độ dân chủ - Nhà nước và xã hội, dịch từ nguyên bản tiếng Nga, do NXB Tri Thức ấn hành năm 2009.
(Có tham khảo bản tiếng Anh văn tại địa chỉ: UN)
NewVnNews





Chủ nghĩa tư bản sẽ còn phát triển hơn nữa, sẽ rất lâu nữa mới đến thời kỳ tột đỉnh của nó, và còn có nhiều sự điều chỉnh, thích nghi mỗi khi khủng hoảng, nhưng vẫn còn đó bóc lột nặng nề và tinh vi hơn, sự lũng đoạn của những tập đoàn đa quốc gia, sự phân hoá giàu nghèo rất lớn, tỉ lệ thất nghiệp càng tăng.
newvnnews_Suy-nghi-ve-CNTB-va-niem-tin-CNXH-cua-mot-dang-vien-moi
Chủ nghĩa xã hội bùng lên và huy hoàng thời kỳ có Lê-nin, rồi vụt tắt những năm 90 thế kỷ trước, hiện tại còn rất ít quốc gia vẫn kiên định theo nó một cách dò dẫm, chưa tạo được thành tựu gì, chưa có được học thuyết kinh tế rõ ràng cho giai đoạn quá độ này, chịu nhiều dư luận cho rằng học thuyết của Các Mác là sai lầm, thực tế đổ vỡ của phần lớn Nhà nước XHCN là chứng cứ sống động, và các Nhà nước XHCN hiện tại đang yếu thế, thậm chí tụt hậu.

Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, học thuyết kinh tế tân tự do (đại loại thế, kiểu như là kinh tế thị trường tự do, Nhà nước không can thiệp) đã đổ bể, CNTB chao đảo, nó đã dập tắt hy vọng hiện tại rằng CNTB sẽ tự thích nghi và điều chỉnh được để tránh khủng hoảng kinh tế. Mác dự báo khủng hoảng là căn bệnh mãn tính của CNTB, có thể nó vẫn đúng cho sau này, nếu bạn còn trẻ, bạn sẽ có cơ hội để chứng kiến một cuộc khủng hoảng tiếp theo trong khoảng 30 năm tới. Trong sự ngỡ ngàng của các chuyên gia kinh tế và các Nhà nước Tư bản, người ta chứng kiến sự bán chạy đột biến của quyển sách "Tư bản" của Mác. Tất nhiên giới tư bản chỉ đọc cuốn đó để soi lại chính mình một cách miễn cưỡng vì những giá trị và sự uyên thâm của Mác thôi, chứ họ không bao giờ nghĩ rằng Mác đúng hết, và CNTB nên chuyển sang CNXH đâu, họ sẽ tiếp tục điều chỉnh để tránh khủng hoảng lần nữa, và chúng ta chờ xem sau này họ có phải đọc lại bộ "Tư bản" của Mác không nhé. Và có một điều thú vị, những người theo CNXH sẽ lấy điều đó để chế giễu CNTB, rằng chủ nghĩa Mác-Lenin sống mãi, rằng CNTB sẽ chết tức tưởi, rằng những con người Mác xít phải kiên định đến cùng để tìm ra mô hình Nhà nước và mô hình kinh tê đúng đắn nhất, xây dựng được xã hội văn minh, dân chủ nhất.

Có thể những nước XHCN hiện tại như Việt Nam, Lào, Cuba, Trung Quốc, Triều Tiên sẽ làm tròn sứ mệnh của mình, sẽ có công lớn đối với xã hội loài người, khi 200 năm sau người ta chứng kiến một cuộc cách mạng mới, và CNTB sụp đổ hoàn toàn, thế giới chỉ còn lại những Nhà nước CNXH, và sau đó là công cuộc xây dựng tiền đề tiến lên CNCS. Cũng có thể những Nhà nước kiểu này biến mất, chuyển sang CNTB. Cũng có thế CNTB sẽ thích nghi được với thời đại mới, giải quyết tận gốc những mâu thuẫn cốt lõi, thay đổi được bản chất bóc lột.
Sẽ thật mơ hồ và lung lay tư tưởng khi đọc những luồng thông tin trái chiều về một chủ đề nào đó, mục tiêu là sẽ tìm đọc 3 tập của bộ Tư bản, cả cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nữa. Chúng ta(cả tôi) vẫn thường tranh luận về chủ nghĩa Mác mà chẳng biết thật sự nó là cái gì, mà chẳng đọc những tác phẩm gốc của Mác.

Tôi vẫn tin vào quy luật phát triển của xã hội loài người, hình thái CNTB sẽ có nhiều hạn chế từ kiến trúc thượng tầng mà dù có thích nghi tới đâu cũng không thể thay đổi được, và khi phát triển đến tột đỉnh, nó sẽ thoái trào và diệt vong khi những mâu thuẫn tột đỉnh không thể giải quyết được. Đó cũng là lúc CNXH đã hoàn thiện, chứ không mập mờ như bây giờ. Mọi thứ đang cần chúng ta xây dựng. (Thử thuyết minh sau một tuần lớp bồi dưỡng Đảng viên mới).

Chủ nghĩa tư bản lúc phát triển nhất chính là lúc nó gần hoàn thành vai trò là một giai đoạn của loài người rồi. Bài đáng để đọc và suy tưởng về tương lai:
>> Chủ nghĩa tư bản đã tới ngày tàn?

Đó là niềm tin dựa trên quy luật phát triển của xã hội loài người còn nói về dân chủ, tôi công nhận Việt Nam chưa có dân chủ, nhưng đã ai thử trả lời:
1. Có cách thực hiện dân chủ mà không cần thay đổi chế độ không.
2. Giả sử thực hiện đa đảng, đi theo TBCN thì có đảm bảo dân chủ không?
3. Hậu quả của việc thay đổi chế độ chính trị là gì? Tình hình đất nước sẽ có những nguy cơ gì đáng kể?
4. TBCN hiện nay được bao nhiêu nước có nền dân chủ đúng nghĩa?
5. TB có điểm yếu gì so với CS.
6. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có khả năng thực hiện được không? Nếu không thì tại sao? Nếu định hướng đúng thì tại sao không làm? Nếu sai thì sai chỗ nào?
7. Xã hội chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là do con người thực hiện hay do chế độ xã hội, vì sao?
8. Giả sử 200 năm sau, một chặng đường chưa là dài đối với một chế độ xã hội, mà VN đổi mới và có con đường đúng đắn để xây dựng một xã hội dân chủ và giàu mạnh bậc nhất thế giới, bác nghĩ có khả năng không? Nếu không thì dựa vào đâu mà nói vậy?
9. Đảng ta thực hiện đổi mới là bởi phát hiện đường lối hiện tại không phù hợp với tình hình mới, vậy đáng khen hay đáng chê? Có xã hội nào không tự đổi mới thường xuyên để phát triển tiếp không?
10. Nước nào có nền dân chủ tốt nhất thế giới hiện tại? VN học theo cách làm đó có thành công không? Và nước đó có tồn tại nhiều vấn đề về dân chủ không? Nước đó có gặp phải nhiều sự phản đối từ bên trong lẫn bêm ngoài không?
11. Nếu đưa ra những cái cần thay đổi để thay đổi về cơ bản xã hội VN thì đó là những vấn đề gì? Giải quyết theo hướng đó có phải là tích cực không? Nó sẽ thay đổi về bên trong hay là bên ngoài?
12. Nếu cần thay đổi về bên trong của xã hội VN một cách tích cực nhất thì đó là cách nào? Có nhất thiết phải là cách thay đổi/lật đổ chế độ không?
13. Giới trí thức mong muốn thay đổi chế độ có khi nào lại chưa thật sự sáng suốt để cuối cùng làm theo sự giật dây ngầm tinh vi nào đó không?
14. Mặt trái của đa đảng là gì?
15. Mặt tốt của ĐCS là gì so với chế độ đa đảng?
16. Xã hội VN có những điều gì mà xã hội tư bản cần học tập?
17. Làm cách nào để nâng cao dân trí tòan dân một cách bền vững, giải quyết từ gốc rễ?
18. Tại sao Nhật Bản có nền dân trí cao như thế, dù động đất sóng thần kinh thiên động địa mà họ vẫn xếp hàng nhận từng gói mì tôm? Bê cách làm đó qua VN có được không?
19. Nâng cao dân trí cho con người quê hương mình có phải là cách tốt nhất để tạo dựng xã hội VN bền vững, tự phát triển và hoàn thiện chế độ xã hội, nền kinh tế, giáo dục, quân sự...?
20. Bao nhiêu người ở VN có mong muốn  có tình nguyện hy sinh quyền lợi bản thân đê giúp đỡ quê hương nâng tầm dân trí không?
21. Bạn và mọi người xung quanh có những điểm yếu cố hữu nào? Đã ai từng nghĩ cách khắc phục nó hiệu quả chưa?
22. Đã ai từng nghĩ đến khả năng bản thân bị chi phối suy nghĩ bởi một lý do sâu xa nào đó mà bác không nhận ra?
23. Bạn nghĩ sao nếu bị nói là yêu nước cực đoan?
24. Những bạn chống CNXH có nghĩ là phần sai lầm, lỗ hổng kiến thức của mình sẽ gây ảnh hưởng tiêu cự gấp ngàn lần những ảnh hưởng tích cực từ suy nghĩ tiến bộ của mình hay không?
25. Những người được cho là có tư tưởng tiến bộ làm gì để giúp tôi thay đổi quan điểm bảo thủ của tôi bằng cách rất văn hoá, không phải là chửi bới, tự coi mình biết hết, xem người khác là cừu?
26. Những người cho rằng CNCS độc hại, sai lầm thì đã thực sự nghiên cứu và nắm rõ chủ nghĩa Mác-Lenin chưa?
27. Làm sao để thay đổi toàn diện nền dân trí của VN?
Những câu hỏi còn bỏ ngỏ, còn nghiên cứu dài dài tại sao không tìm cách xây dựng mà chỉ muốn phá dựa trên cảm tính(!?).
Việt Hoàng



NewVnNews - Bài viết công phu của nhà báo Paul Mason đăng trên tờ The Guardian đặt ra một vấn đề tạo ra rất nhiều tranh cãi, nhưng đáng để bàn luận và rất có giá trị trong thời điểm hiện tại.
NewVnNews_Chu-nghia-tu-ban-giay-chet-ngaytan-da-toi
Có thể chúng ta không chú ý, nhưng tất cả đang bước vào thời kỳ hậu tư bản chủ nghĩa. Tâm điểm của thay đổi là công nghệ thông tin, là các phương thức lao động mới, là nền kinh tế chia sẻ. Những cách làm cũ vẫn còn đó và còn lâu mới mất đi hoàn toàn, nhưng bây giờ là lúc dành cho thời kỳ không tưởng.
Cờ đỏ và hành khúc của Đảng Syriza trong khủng hoảng Hy Lạp, cùng kỳ vọng các ngân hàng sẽ bị quốc hữu hóa, đã tái sinh một giấc mơ từ thế kỷ 20: Áp đặt thị trường tự do bằng ý chí từ trên xuống.
Bởi lẽ trong phần lớn thế kỷ 20, giấc mơ ấy chính là hình dung của người cánh tả về giai đoạn đầu tiên của nền kinh tế hậu tư bản. Ý chí đó đại diện cho giai cấp công nhân, hoặc qua phiếu bầu hay trên các chiến lũy tranh đấu. Nhà nước sẽ là đòn bẩy. Cơ hội sẽ đến qua những đợt sụp đổ kinh tế.
Hậu tư bản, một giấc mơ đang thành hình
Ấy vậy mà trong 25 năm qua, chính giấc mơ của phe cánh tả, chứ không phải thị trường, mới là thứ sụp đổ. Kinh tế thị trường làm lu mờ kế hoạch hóa, và chủ nghĩa cá nhân thay thế chủ nghĩa tập thể.
Nếu ta sống qua chừng này thứ mà vẫn ghét bỏ tư bản thì thật là trải nghiệm đau buồn. Nhưng trong quá trình ấy công nghệ đã tạo ra một ngả đường khác.
Tư bản, hóa ra, không thể bị xóa bỏ bởi cờ đỏ và quân hành. Nó sẽ bị diệt vong khi chúng ta tạo ra một cái gì đó năng động hơn mà thoạt tiên không ai chú ý bên trong hệ thống cũ, nhưng rồi sẽ đột phá, tái cấu trúc nền kinh tế xoay quanh các giá trị và hành vi mới. Tôi gọi nó là hậu tư bản chủ nghĩa.
Tương tự hồi kết của chủ nghĩa phong kiến 500 năm trước, sự thay thế của hậu tư bản sẽ được đẩy mạnh bằng các tác lực bên ngoài, và nhào nặn bởi sự ra đời của một nhân loại mới. Quá trình đó đã bắt đầu.
25 năm qua, công nghệ thông tin đã khiến cánh cửa dẫn đến thời kỳ hậu tư bản hé mở. Đầu tiên, nó làm giảm sự cần thiết của việc làm, làm mờ ranh giới giữa lao động và nghỉ ngơi, cũng như cơi giãn mối quan hệ giữa công việc và tiền lương.
Làn sóng tự động hóa đang đến, nhất thời còn bị kìm hãm do hạ tầng xã hội hãy còn chưa thể gánh nổi các hệ quả, sẽ xóa bỏ phần lớn công việc phải làm - không chỉ giúp loài người tồn tại, mà còn mang đến cuộc sống bền vững cho tất cả.
Thứ hai, thông tin đang làm xói mòn khả năng định giá đúng của thị trường. Đó là vì các thị trường dựa trên sự khan hiếm trong khi thông tin lại tràn ứa. Cơ chế tự vệ của hệ thống là hình thành các tổ chức độc quyền - các tập đoàn công nghệ khổng lồ - với quy mô trong 200 năm qua chưa từng thấy, nhưng chúng cũng không thể bền vững.
Khi kiến tạo các mô hình kinh doanh và chia sẻ các giá trị dựa trên việc thâu tóm và tư nhân hóa tất cả thông tin xã hội tạo ra, các  tập đoàn này đồng thời tạo ra một hệ thống kinh tế đi ngược với lợi ích của nhân loại, đó là được tự do sử dụng các ý tưởng.
Thứ ba, chúng ta đang chứng kiến sự trỗi dậy bột phát của sản xuất hợp tác: hàng hóa, dịch vụ cũng như các tổ chức đang dường như không còn đáp lại những bắt buộc của thị trường và của trật tự quản lý. Sản phẩm thông tin lớn nhất trên thế giới - Wikipedia - được tạo nên từ các tình nguyện viên hoàn toàn miễn phí, đã xóa bỏ ngành kinh doanh bách khoa toàn thư và tước đi 3 tỉ USD doanh thu hàng năm của ngành quảng cáo.
Gần như hoàn toàn không được để mắt tới, trong những xó xỉnh và ngõ ngách của hệ thống thị trường cũ, những mảng lớn của đời sống kinh tế đang bắt đầu chuyển động theo một nhịp điệu khác. Các đồng tiền song song, ngân hàng thời gian, các hợp tác xã và không gian tự quản bắt đầu sinh sôi, gần như nằm ngoài sự chú ý của các nền kinh tế, và làm lung lay các cấu trúc cũ xưa sau cuộc khủng khoảng 2008.
Ta chỉ khám phá thấy nền kinh tế mới này nếu tìm nó thật kỹ. Ở Hy Lạp, khi tổ chức phi chính phủ vẽ ra bản đồ hợp tác xã lương thực, các nhà sản xuất thay thế, các đồng tiền song song và hệ thống hối đoái tại chỗ, người ta phát hiện ra hơn 70 dự án lớn và hàng trăm dự án nhỏ hơn, từ chiếm dụng đất công, chia sẻ phương tiện cho đến nhà trẻ miễn phí. 
Với kinh tế học chính thống, những dự án trên khó có thể coi như một hoạt động kinh tế - nhưng vấn đề nằm ngay ở đó. Các dự án đó tồn tại bởi vì chúng kinh doanh, dù chập chờn và kém hiệu quả, bằng chính tiền tệ của hậu tư bản: Thời gian rỗi, hoạt động kết nối cộng đồng và sản phẩm miễn phí.
Nó thoạt trông thì tủn mủn, tạm bợ và thậm chí còn nguy hiểm nếu cho rằng những hoạt động ấy có thể thay thế cho hệ thống kinh tế toàn cầu, nhưng tiền và tín dụng trong thời Edward III (vua Anh từ 1312-1377) cũng hoàn toàn có tính chất tương tự.
Các hình thái sở hữu mới, vay mượn mới, hợp đồng pháp lý mới: cả một nhóm văn hóa doanh nghiệp đã hình thành suốt 10 năm qua, mà media gọi dưới tên gọi nền kinh tế “chia sẻ”. Các từ ngữ thời thượng như “hàng hóa chung" và “hàng hóa hợp tác xã" tràn lan khắp nơi, nhưng ít ai thắc mắc liệu những biến động này có ý nghĩa như thế nào đối với tư bản chủ nghĩa.
Tôi tin nó cung cấp một lối thoát - nhưng đó là chỉ khi các dự án vi mô được nuôi dưỡng, khuyến khích và bảo vệ bởi một sự thay đổi cốt yếu trong các chính phủ vận hành. Và thay đổi đó phải được duy trì bởi thay đổi trong nếp nghĩ của chúng ta về công nghệ, sở hữu và việc làm.
Để mà, khi tạo ra các yếu tố của hệ thống mới, ta có thể nói với bản thân và người khác: “Đây không chỉ đơn thuần là cơ chế sinh tồn của tôi, không phải là một chốn nương thân trước thế giới tân tự do; mà đó chính là một lối sống mới đang từng bước hình thành”.
Các yếu tố then chốt mở ra thời kỳ mới
Cuộc khủng khoảng tài chính 2008 quét sạch 13% sản lượng sản xuất toàn cầu và 20% sản lượng mậu dịch toàn cầu. Tăng trưởng toàn cầu trở về mức âm - ở quy mô mà bất cứ con số nào dưới +3% đều được xem là suy thoái.
Ở phương Tây, nó tạo ra một giai đoạn khủng hoảng lâu dài hơn đại khủng hoảng 1929-1933, và thậm chí lúc này đây, giữa sự phục hồi yếu ớt, vẫn khiến các nhà kinh tế lớn bàng hoàng trước viễn cảnh trì trệ dài kỳ. Các dư chấn khủng hoảng Châu  Âu đang xé lục địa này thành từng mảnh.
Giải pháp đưa ra là chính sách thắt lưng buộc bụng song song với đổ thêm tiền vào nền kinh tế. Nhưng cả hai đều không hiệu quả. Ở những quốc gia ảnh hưởng nặng nề nhất, hệ thống hưu trí đã bị phá hủy, độ tuổi hưu đẩy đến 70, và giáo dục đang bị tư hữu hóa khiến sinh viên ra trường giờ đây đối mặt với món nợ suốt đời. Dịch vụ đang bị xé nhỏ, các dự án hạ tầng đình trệ. 
Thậm chí ngay thời điểm này người ta vẫn chưa thể hiểu nổi ý nghĩa thực sự của chữ “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Nó không phải 8 năm cắt giảm chi tiêu ngân sách như ở Anh, càng không phải khủng khoảng xã hội diễn ra ở Hy Lạp. Nó có nghĩa là hạ lương, phúc lợi xã hội và mức sống ở phương Tây xuống vài thập kỷ cho đến khi ngang bằng với mức lương, phúc lợi và mức sống đang tăng lên của giai cấp trung lưu ở Trung Quốc và Ấn Độ
Trong khi đó, thiếu vắng một mô hình thay thế, các điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kế tiếp đang được kết tập. Lương thực đã giảm, hoặc giữ nguyên tại Nhật, các nước phía Nam khu vực đồng euro, ở Mỹ và Anh.
Hệ thống ngân hàng đã phục hồi và giờ đây đang có quy mô lớn hơn trước năm 2008. Các quy định mới buộc ngân hàng có nguồn dự trữ lớn hoặc đã mất tác dụng hoặc bị trì hoãn. Đồng thời, 1% trở nên giàu có hơn, sau khi tắm tưới bằng tiền tự do.
Khi đó, chủ nghĩa tân tự do đã biến thành một hệ thống tuần hoàn những thảm bại. Tệ hơn, nó đã phá vỡ lề lối 200 năm của chủ nghĩa tư bản công nghiệp mà ở đó khủng hoảng kinh tế sẽ kích thích các hình thức cải tiến công nghệ mang lại lợi ích cho mọi người.
Đó là bởi chủ nghĩa tân tự do chính là mô hình kinh tế đầu tiên trong 200 năm qua lấy sự kìm hãm tiền lương, đập vỡ quyền lực xã hội cũng như sự đàn hồi của giai cấp lao động làm tiền đề phát triển.
Nếu xem lại các giai đoạn phát triển cực thịnh được các lý thuyết gia chu kỳ dài nghiên cứu - giai đoạn 1850 ở Châu  Âu, 1900 và 1950 trên toàn cầu - chính sức mạnh của lao động có tổ chức đã buộc các doanh nghiệp tự và tập đoàn chấm dứt việc hà hơi thổi ngạt cho các mô hình kinh doanh lỗi thời bằng việc cắt giảm lương, mà buộc phải sáng tạo để thích ứng với hình thức tư bản mới.
Kết quả cho thấy, ở mỗi đợt phục hồi, chúng ta tìm thấy một khối kết hợp giữa tự động hóa, lương tăng và tiêu thụ giá trị lớn hơn. Ngày nay không còn sức ép từ lực lượng lao động, và công nghệ với vai trò là cốt lõi của làn sóng cải tiến không còn đòi hỏi phải tạo ra sức mua lớn hơn, hay cải tiến lực lượng lao động cũ cho các công việc mới. 
Công nghệ thông tin là chiếc máy nghiền nát giá mọi thứ thấp hơn và cắt phăng đi thời gian lao động cần thiết để duy trì cuộc sống trên hành tinh này.
Kết quả là phần lớn những nhân tố kinh doanh đã trở thành những kẻ phá hoại kiểu mới với công nghệ. Đối mặt với triển vọng xây dựng những phòng thí nghiệm giải mã bộ gene, họ lại mở các quán cà phê, tiệm làm móng và sở vệ sinh theo hợp đồng: hệ thống ngân hàng, hệ thống hoạch định và nền văn hóa tự do quá cố rốt cuộc chỉ thưởng ban cho kẻ nào tạo ra các công việc giá trị thấp, tốn hao thời gian.
Các cải tiến đang diễn ra nhưng đến nay vẫn chưa khai mào cho cuộc phát triển lớn thứ 5 cho chủ nghĩa tư bản mà lý thuyết chu kỳ dài mong đợi. Nguyên nhân nằm tại bản chất của công nghệ thông tin.
Cuộc cách mạng của internet và công nghệ thông tin
Vây quanh chúng ta không chỉ là các cỗ máy thông minh, mà là cả một thực tại mới lấy thông tin làm tâm điểm. Hãy thử hình dung một chiếc máy bay: nó được một chiếc máy tính vận hành; được thiết kế, kiểm tra và “chế tạo giả lập” hàng triệu lần; nó thậm chí cung cấp thông tin thời gian thực ngược về cho nhà sản xuất. Trên máy bay, mọi người dán mắt vào đủ loại màn hình, và ở một số nước may mắn hơn, còn được kết nối internet.
Nhìn từ mặt đất, phi cơ chính là con chim sắt trắng khổng lồ như thời James Bond. Nhưng lúc này nó là một cỗ máy thông minh và là một chấm phá trong toàn hệ thống. Nó có nội dung thông tin và đóng góp giá trị thông tin lẫn giá trị vật chất cho thế giới. Trong một chuyến bay thương mại nghẹt cứng khách, khi ai cũng nhìn vào Excel hay PowerPoint, khoang hành khách chính là một nhà máy sản xuất thông tin.
Nhưng giá trị của bằng này thông tin là gì? Ta sẽ không tìm thấy câu trả lời trong tài khoản ngân hàng truyền thống: Các tài sản trí tuệ chỉ được ước tính trong các tiêu chuẩn kế toán hiện đại. Một nghiên cứu của Viện SAS 2013 cho thấy, không thể định giá được thông tin từ chi phí thu thập, từ giá trị thị trường hay thu nhập tương lai mà nó mang lại.
Chỉ có thể thông qua một hình thức kiểm toán đã bao gồm các lợi ích phi thương mại, và cả các rủi ro, mà các công ty mới có thể thực sự giải thích cho cổ đông trị giá thực sự của thông tin. Đã xuất hiện gãy đổ trong logic mà chúng ta vẫn dùng để định giá cho thứ quan trọng nhất của thế giới hiện đại.
Tiến bộ công nghệ lớn của đầu thế kỷ 21 không chỉ bao gồm những chủ thể và quá trình mới, mà còn ở những thứ cũ đã được làm cho thông minh hơn. Nội dung kiến thức của sản phẩm đang trở nên giá trị hơn nguồn lực vật chất tạo ra chúng. Nhưng đó là giá trị đo bởi sự hiệu quả, không phải giá trị quy đổi hay tài sản. 

Thủ tướng Hy Lạp:
Chủ nghĩa xã hội bùng lên và huy hoàng thời kỳ có Lê-nin, rồi vụt tắt những năm 90 thế kỷ trước, hiện tại còn rất ít quốc gia vẫn kiên định theo nó một cách dò dẫm, chưa tạo được thành tựu gì, chưa có được học thuyết kinh tế rõ ràng cho giai đoạn quá độ này, chịu nhiều dư luận cho rằng học thuyết của Các Mác là sai lầm, thực tế đổ vỡ của phần lớn Nhà nước XHCN là chứng cứ sống động, và các Nhà nước XHCN hiện tại đang yếu thế, thậm chí tụt hậu.
Đọc tiếp...
Các nhà kinh tế và chuyên gia công nghệ thập niên 90 bắt đầu có cùng suy nghĩ: rằng vai trò mới này của thông tin đang tạo ra một thứ tư bản mới, thế hệ thứ ba - khác với tư bản công nghiệp và tư bản nô lệ của thế kỷ 17 và 18. Nhưng họ phải vật lộn khốn khó để tìm ra cách mô tả sự vận động của thứ tư bản “nhận thức“ này. Và điều đó có nguyên do. Vận động của nó cực kỳ phi tư bản.
Trong và ngay sau thế chiến thứ 2, các nhà kinh tế chỉ xem thông tin đơn thuần là một “hàng hóa công". Chính phủ Mỹ thậm chí còn ban hành các bằng sáng chế không nên tạo ra lợi nhuận mà lợi nhuận chỉ xảy ra trong chính quá trình sản xuất. Và rồi chúng ta dần hiểu về sở hữu trí tuệ. Năm 1962, Kenneth Arrow, trưởng bối tri thức về các nền kinh tế lớn, đã nói rằng trong một nền kinh tế thị trường tự do mục đích để sáng tạo ra sản phẩm là để tạo ra quyền sở hữu trí tuệ. Ông lưu ý: “Càng ít sử dụng thông tin càng thành công ở trong một chừng mực nào đó”.
Ta có thể quan sát chân lý của câu nói này trong mỗi mô hình thương mại điện tử đã được xây dựng: độc quyền và bảo vệ dữ liệu, thâu tóm dữ liệu xã hội miễn phí do tương tác người dùng tạo ra, thúc đẩy lực lượng thương mại vào các lĩnh vực sản xuất thông tin trước kia hãy còn phi thương mại, dò tìm thông tin hiện có để tìm kiếm giá trị tiên đoán - mọi lúc mọi nơi bảo đảm không ai khác ngoại trừ tập đoàn có thể thu lợi từ các kết quả thu được.
Nếu ta trình bày đảo ngược nguyên lý của Arrow, các hàm ý đầy tính cách mạng của nó trở nên rất rõ ràng: nếu một nền kinh tế thị trường tự do cùng với sở hữu trí tuệ dẫn đến việc “kém sử dụng thông tin”, thì một nền kinh tế dựa trên việc sử dụng toàn diện thông tin không thể nào chấp nhận thị trường tự do lẫn sở hữu trí tuệ tuyệt đối. Mô hình kinh tế của tất cả các nhà khổng lồ kỹ thuật số hiện đại được kiến thiết để ngăn chặn sự thừa ứ thông tin.
Nhưng thông tin vẫn thừa mứa. Hàng hóa thông tin có thể thay thế miễn phí. Khi một hàng hóa thông tin được tạo ra, nó có thể được sao chép vô tận. Một track nhạc hay một cơ sở dữ liệu khổng lồ dùng để chế tạo một chiếc máy bay có giá sản xuất; nhưng giá tái sản xuất rơi xuống con số không. Do vậy, nếu giá cơ chế giá thông thường của chủ nghĩa tư bản chiếm ưu thế theo thời gian, nó cũng sẽ tụt xuống con số không.
Suy tưởng của Karl Marx
Cùng với thế giới của thông tin bị độc quyền và giám sát từ phía các tập đoàn lẫn chính phủ, vẫn có một thứ khác chuyển động quanh thông tin: thông tin trong vai trò hàng hóa xã hội, miễn phí khi sử dụng, không thể sở hữu hay khai thác hay định giá.
Tôi đã khảo sát các động thái từ các nhà kinh tế và các chuyên gia hòng xây dựng một khuôn khổ chung cốt để hiểu rõ hơn về chuyển động của một nền kinh tế dựa trên thông tin dư thừa và thuộc về xã hội. Nhưng điều này thực ra đã được hình dung bởi một nhà kinh tế thế kỷ 19 trong thời kỳ của điện tín và máy hơi nước. Tên của ông là? Karl Marx.
Bối cảnh là thị trấn Kentish, London, tháng 2 năm 1858, đâu chừng bốn giờ sáng. Marx đang bị truy nã tại Đức và đang cần mẫn hoàn thành tác phẩm của mình. Khi cuốn sách được xuất bản, các trí thức cánh tả thập niên 1960 cũng phải thừa nhận rằng nó “thách thức mọi diễn giải nghiêm túc về Marx từng có trước đây”. Bài viết đó có tên gọi tạm dịch “Sự phân mảnh của máy móc” (The Fragment on Machines).
Trong đó Marx hình dung một nền kinh tế trong đó vai trò chính của máy móc là sản xuất, và con người chỉ phải giám sát. Marx nói rõ, trong nền kinh tế ấy, lực lượng sản xuất chính sẽ là thông tin.
Năng lực sản xuất của các cỗ máy chẳng hạn máy dệt bông tự động, điện tín và đầu máy hơi nước không còn phụ thuộc vào lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng mà phụ thuộc vào tri thức xã hội. Khả năng tổ chức và tri thức nói cách khác đóng góp nhiều hơn cho năng lực sản xuất so với công sản xuất và vận hành máy móc.
Tuyên ngôn này mang tính cách mạng. Nó cho rằng một khi kiến thức trở thành lực lượng sản xuất chính, vượt trên lượng lao động cần thiết để tạo ra máy móc, câu hỏi lớn sẽ không còn là so sánh tiền lương và lợi nhuận, mà là ai là kẻ kiểm soát quyền lực của tri thức, theo cách mà Marx gọi.
Trong một nền kinh tế mà máy móc thực hiện phần lớn công việc, bản chất của tri thức bên trong các cỗ máy đó, Marx viết, “phải mang tính xã hội”. Trong cuốn sách được viết ra vào đêm muộn thế kỷ 19 đó, Marx hình dung phần đuôi của suy tưởng này: Chế tạo ra một cỗ máy lý tưởng, sẽ tồn tại vĩnh cửu và hoàn toàn miễn phí. Một cỗ máy như vậy sẽ làm giảm giá thành, lợi nhuận, chi phí lao động của tất cả những gì nó nhúng tay vào.
Khi ta hiểu rằng thông tin là quyền lực của tri thức, internet và phần mềm là những cỗ máy lý tưởng, và khả năng lưu trữ, băng thông cũng như năng lực xử lý đang làm giảm giá thành theo cấp số nhân, giá trị trong tư duy của Marx trở nên rõ rệt. Chúng ta đang có xung quanh mình những cỗ máy không tốn phí và có thể, nếu ta muốn, tồn tại vĩnh cửu.
Trong các tác phẩm vẫn chưa xuất bản cho tới giữa thế kỷ 20, Marx hình dung thông tin sẽ được lưu trữ và chia sẻ trong cái gọi là “trí tuệ tổng quát” - để mỗi con người trên Trái đất kết nối vào một nguồn tri thức xã hội có lợi cho tất cả. Ngắn gọn hơn, Marx đã tưởng tượng đến một cái gì đó gần với nền kinh tế thông tin mà chúng ta đang sống trong đó. Và ông đã viết, sự tồn tại của nó sẽ "thổi tung chủ nghĩa tư bản lên trời".
Khi địa hình thay đổi, con đường cũ kỹ nằm ngoài chủ nghĩa tư bản do cánh tả thế kỷ 20 hình dung đã mất đi.
Nhưng một con đường khác đã mở ra. Sản xuất hợp tác, sử dụng công nghệ mạng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ chỉ hiệu quả khi miễn phí, hay được chia sẻ, định hình những ngả khác nằm ngoài hệ thống thị trường.Nó sẽ còn cần đến nhà nước để vẽ ra khuôn khổ - như nó đã vẽ ra khuôn khổ cho lao động nhà máy, đồng tiền và mậu dịch tự do ở thế kỷ 0. Khối hậu tư bản hẳn sẽ tồn tại song song với khối thị trường trong nhiều thập kỷ nữa, nhưng thay đổi lớn đang diễn ra.
Sự quá độ sẽ cần có sự tham gia của nhà nước, của thị trường và sản xuất hợp tác bên ngoài thị trường. Nhưng để biến nó thành hiện thực, toàn bộ dự án của cánh tả, từ các nhóm phản đối cho tới các đảng xã hội dân chủ và tự do, buộc phải tự cấu trúc lại.
Thực tế, một khi con người hiểu rõ được logic của quá độ hậu tư bản, những ý nghĩ ấy sẽ không còn là tài sản của cánh tả - mà chúng thuộc về một phong trào rộng lớn hơn, mà chúng ta cần gắn những nhãn mác mới dành riêng cho nó.
Ai có thể biến điều này thành hiện thực? Trong dự án cánh tả ngày trước, đó là giai cấp lao công nhân. Hơn 200 năm trước, nhà báo cấp tiến John Thelwall đã cảnh báo những người đã xây nên các nhà máy ở Anh rằng họ sẽ tạo ra một hình thái dân chủ mới mẻ và nguy hiểm: “Mỗi công xưởng và nhà máy sản xuất lớn là một kiểu xã hội chính trị, mà không chỉ thị nào từ nghị viện có thể làm câm lặng, không một quan tòa nào có thể giải tán nổi".
Ngày nay cả xã hội là một xưởng chế tạo. Chúng ta tất thảy đều tham gia vào việc sáng tạo và tái tạo các thương hiệu, hiện tượng và thiết chế bao quanh mình. Đồng thời các mạng lưới truyền thông thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày và cho lợi nhuận đang tràn ngập kiến thức chia sẻ lẫn sự bất mãn. Ngày nay chính mạng lưới - như các công xưởng 200 năm về trước - là nơi không thể làm cho câm lặng hay giải tán.
Thật vậy, các nhà nước có thể đóng Facebook, Twitter, thậm chí toàn bộ Internet và mạng di động khi xảy ra khủng hoảng, và trong quá trình đó cũng làm tê liệt nền kinh tế. Nó sẽ tương tự như việc, theo cách nói của nhà xã hội học Manuel Castells, ngắt điện cả một quốc gia.
Khi tạo ra hàng triệu con người kết nối với nhau, bị bóc lột về tài chính nhưng với toàn bộ trí tuệ nhân loại có được chỉ sau một một cú gạt ngón tay, nền tư bản thông tin đã tạo ra một tác nhân thay đổi mới trong lịch sử: con người có giáo dục và kết nối nhân văn.
Viễn cảnh về cuộc sống lý tưởng
Thực tế, diễn ra tại những nơi như Hy Lạp, sự phản kháng chính sách thắt lưng buộc bụng và tạo ra các hệ thống kết nối mà ta không thể tự vận hành - như một nhà hoạt  động đã cho biết - diễn ra song song. Suy cho cùng, chủ nghĩa hậu tư bản ở dạng khái niệm chính là các hình thái hành vi mới của con người mà các nền kinh tế đương thời hãy còn chưa xem là phù hợp.
Vậy làm sao chúng ta có thể hình dung được sự chuyển đối trước mắt? So sánh tương đương hợp lý nhất chúng ta có được là sự thay thế của chủ nghĩa tư bản thay cho chủ nghĩa phong kiến - và nhờ vào thành tựu của các nhà dịch bệnh học, di truyền học và các nhà phân tích dữ kiện, chúng ta đã biết nhiều hơn về sự chuyển đổi ấy hơn 50 năm trước khi nó được khoa học xã hội sở hữu. 
Chủ nghĩa phong kiến là một hệ thống kinh tế cấu trúc bởi phong tục và luật lệ về sự phục tùng. Chủ nghĩa tư bản cấu trúc bởi một sản phẩm thuần túy kinh tế: thị trường. Chúng ta có thể suy ra từ đây rằng hậu tư bản - điều kiện tiền đề đã có sẵn quá nhiều - sẽ không đơn thuần chỉ là một hình thái xã hội thị trường phức tạp. Nhưng chúng ta chỉ có thể bắt đầu hiểu được nó sẽ như thế nào ở một viễn cảnh tích cực.
Tôi không nói điều này ra để lãng tránh câu hỏi: các tham số kinh tế chung của một xã hội hậu tư bản, chẳng hạn, vào năm 2075, có thể được phác thảo ra. Nhưng nếu như một xã hội như thế được cấu trúc quanh sự giải phóng con người, chứ không phải các nền kinh tế, những điều bất khả tiên đoán sẽ bắt đầu hình thành.
Ngày nay, cái đang làm xói mòn chủ nghĩa tư bản, dù hầu như không được các nền kinh tế chính thống ghi nhận, chính là thông tin. Hầu hết các điều luật về thông tin xác định quyền của tập đoàn được thu giữ và quyền của nhà nước được tiếp cận, mà bất chấp nhân quyền của các công dân. Sự tương đồng với báo in và phương pháp khoa học chính là công nghệ thông tin và sự can dự của nó vào các công nghệ khác, từ di truyền học đến sức khỏe sang nông nghiệp đến điện ảnh, nơi công nghệ thông tin nhanh chóng làm giảm chi phí.
Điểm tương đồng hiện tại với sự trì trệ diễn ra vào cuối chủ nghĩa phong kiến chính là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đang bị kiềm hãm, mà ở đó thay vì tự động hóa công việc, chúng ta lại chỉ tạo ra những việc làm mà David Graeber gọi là dấm dớ với tiền công rẻ mạt. Và nhiều nền kinh tế đang trì trệ.
Đây không chỉ là sự chuyển đổi về chính trị. Internet, theo cách nói của nhà kinh tế Pháp Yann Moulier-Boutang, vừa là đại dương cũng vừa là con tàu nếu dùng nó làm hình ảnh tương đương với phát kiến thế giới trước kia. Thực tế, nó chính là con tàu, là la bàn, là đại dương, cũng chính là vàng bạc châu báu. 
Các cú sốc của hiện tại đã xuất hiện rất rõ ràng: Cạn kiệt năng lượng, thay đổi khí hậu, dân số già đi và di dân. Chúng đang thay đổi sự vận động của tư bản chủ nghĩa và khiến tư bản không thể hoạt động dài hạn.
Dẫu chưa tạo ra ảnh hưởng tương tự với Dịch hạch ngày trước - nhưng theo những gì ta nhìn thấy ở New Oreland năm 2005, chẳng cần đến một trận dịch hạch mới có thể đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn cấu trúc hạ tầng của một xã hội bị bần cùng và phức tạp về tài chính.
Một khi đã hiểu được sự chuyển đổi theo cách này, cái cần thiết chẳng phải là một kế hoạch 5 năm cực kỳ tỉ mỉ - mà là một dự án với mục tiêu của nó nằm ở chỗ phát triển các công nghệ, các mô hình kinh tế và hành vi làm tiêu biến các tác động thị trường, xã hội hóa tri thức, xóa bỏ nhu cầu đối với công việc và thúc đẩy nền kinh tế sang hướng dư thừa.
Tôi gọi đây là Dự án Zero vì nó hướng tới một nền kinh tế không sử dụng than đá; việc sản xuất máy móc, sản phẩm và dịch vụ với chi phí biên bằng không; và loại bỏ thời gian lao động cần thiết đến mức tối thiểu.
Liệu tin rằng chúng ta đang ở mép một cuộc tiến hóa vượt qua tư bản chủ nghĩa có phải là một hão huyền không tưởng? Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người đồng tính nam và nữ đã có thể kết hôn. Vậy thì tại sao chúng ta lại thấy khó khăn khi hình dung về tự do kinh tế?
Tất cả những văn tự của lịch sử nhân loại đều từng hình dung sự tồn tại của thảm họa. Nó đeo bám chúng ta trong các bộ phim về xác sống, phim thảm họa, trong đầm lầy hậu tận thế của các bộ phim như The Road hay Elysium. Nhưng vì sao chúng ta không được tưởng tượng một bức tranh về cuộc sống lý tưởng, dựng xây từ sự đầy tràn thông tin, của công việc phi cấp bậc và sự tách rời công việc với tiền lương?
Chúng ta cần nhiều hơn một mớ những giấc mơ hoang đường và những dự án quy mô nhỏ để xác nhận rằng chúng ta sắp bước sang một thời kỳ mới. Chúng ta cần một dự án xây dựng từ lý trí, từ bằng chứng và các thiết kế có thể kiểm chứng, rút ra từ lịch sử và tồn tại bền vững với hành tinh này. Và ta cần phải sớm thực hiện chúng.
Khương Lê (Theo The Guardian)


MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget