Halloween Costume ideas 2015
Articles by "Cảm Xúc Kỳ Anh"
Afamily An ninh - trật tự An Ninh Thủ Đô Ảnh Đẹp Ăn Ngon Âm Nhạc Ẩm Thực Báo Chí Báo Công An Nhân Dân Báo Dân Sinh Báo Đất Việt Báo Giao Thông Báo Hà Tĩnh Báo Mới Báo Nông Nghiệp Báo Tiền Phong Báo Tin Tức Báo Tuổi Trẻ BBC Bí Quyết Bí Quyết Khỏe Và Đẹp Biển Chết Biển Đông Biển Kỳ Anh Biển Vũng Áng Bizlive Bói Vui bóng đá Bùi Mạnh Hùng Cá Chết Cá Gỗ Cafebiz CafeF Cafekubua Cảm Xúc Cảm Xúc Kỳ Anh Cao Quang Vinh Chăm Sóc Da Châu Á Chia Sẻ Chiến Tranh Chính Trị Chợ Kỳ Anh Công An Kỳ Anh Cộng Đồng Mạng Công Nghệ Cù Lú Cung Hoàng Đạo Cuộc Sống Cư Dân Mạng danviet.vn Dạy Con Dân Ca Nghệ Tĩnh Dân ca Ví giặm Dân Trí Diễn Đàn Diễn Đàn - Chia Sẻ Dinh Dưỡng Du Học Du Lịch Đại Kỷ Nguyên Đàn Ồng Đảo Sơn Dương Đặc Sản Kỳ Anh Đèo Ngang Đẹp Đẹp + Đẹp Mãi Kỳ Anh Địa Danh Kỳ Anh Điện Ảnh Đọc & Suy Ngẫm Đông Yên Đời Sống Eva Facebook Formosa Genk Gia Đình Giadinh.net Giải Trí Giáo Dục Giáo dục Kỳ Anh Giáo Dục Việt Nam Giao Thông Giới Tính Giới Trẻ Góc Chuyên Gia Góc Con Gái Góc Của Nàng Góc Nhìn Gương mặt Kỳ Anh Gương Mặt Trẻ Hà Chương Hà Tĩnh Hạnh Phúc Hay Hẹn Hò Hoa Hậu Hoành Sơn How To Hội Đồng Hương Kỳ Anh Hôn Nhân HUMANS OF KỲ ANH Huyện Kỳ Anh Infonet iSenpai Japan Times Kênh 14 Khám Phá Khoa Học Khoẻ Khỏe+ Khu KT Vũng Áng Kĩ Năng Mềm Kiến Thức Kinh Doanh Kinh Tế Kỳ Bắc Kỳ Giang Kỳ Hà Kỳ Hoa Kỳ Hợp Kỳ Khang Kỳ Lạc Kỳ Lâm Kỳ Lợi Kỳ Nam Kỳ Phong Kỳ Phương Kỳ Sơn ký sự pháp đình Kỳ Tân Kỳ Thư Kỳ Thượng Kỳ Trinh Kỳ Văn Kỳ Xuân Làm Đẹp Làm Giàu Làng Nghề Lao Động Lê Quyết Diễn Lịch sử Mai Phương Mạng Xã Hội Mầm Nhỏ Mẹ - Con Menzine Mẹo Chữa Bệnh Món Ăn & Sức Khỏe Môi Trường Mới Lạ Mùa Đông Mực nháy Nghệ Sĩ Nghiên Cứu Lịch Sử Ngô Sỹ Ngọc Ngôi sao Nguyễn Ngọc Anh Nguyễn Tiến Chưởng Nguyễn Xuân Lộc Ngư Dân Kỳ Anh Người Đô Thị Người Đưa Tin Người Kỳ Anh Người Lao Động Nhà Quản Lý Nhạc Biển Chết Nhạc Kỳ Anh Nhật Bản Nhịp Sống Trẻ Nikkei Asian Review Ô Tô Phan Đình Hoàng Quảng Phan Quang Phóng Pháp Luật Pháp Luật TP HCM Phim phong cách Phố Voi Phụ Nữ Phụ Nữ & Gia Đình Phụ Nữ Sức Khỏe Phường Kỳ Thịnh Qua Đèo Ngang Quan Hệ Quốc Tế Quang Tiến Quân Sự Quê Choa Xấu Xí Quốc Tế Rong Rêu (Võ Xuân Tùng) Rôn Vinh Sách Hay sáng tạo saostar Sex SGGP Online Soha Sống Sống Khỏe Sông Quyền Suy Ngẫm Sức Khỏe Sức Khỏe - Y Tế Sức Khỏe & Đời Sống Tạp chí Phái Đẹp ELLE Tạp Chí Sức Khỏe Tâm Sự Tết Quê Thành Công Thanh Niên Thanh Niên Online Theleader Thế Giới Thể Thao Thể Thao Văn Hóa Thị xã Kỳ Anh Thông Tấn Xã Việt Nam Thông Tin Từ Thiện Thơ Biển Chết Thơ Quê Hương Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Thời Sự Thời Trang Thương Về Miền Trung Tia Sáng Tiến Điển Tiền Phong Tiếng Nghệ Tĩnh Tín ngưỡng Tin Tức Tin Tức Kỳ Anh Tinh Hoa Tình Yêu Tóc Tôn Giáo Trần Hồng Quân Trần Khánh Cẩm Trần Xuân Tiến Tri Thức Trẻ Trí Thức Trẻ Tri Thức Việt Nam Trung Quốc Truyện - Bút Ký ... Trường Cấp III Kỳ Anh Trường THPT Nguyễn Huệ Tuổi Trẻ Tuổi Trẻ Online Tuyển Sinh Tư Liệu Tư Liệu - Tra Cứu Ung Thư Văn Hóa Văn Hoá Truyền Thống Video Video - Ảnh Video Sức Khỏe Vietfuture Vietnamfinance Vietnamnet VietQ VnEconomy VnExpress Võ Tú Võ Xuân Hùng VOV Vov.vn VTC News VTV Xã Hội XKLĐ Y Học Cổ Truyền Y học thường thức Y Tế Yêu Zing

I. Tên trường có trước hay xây dựng trường trước – học trước?

  Một buổi chiều cuối tháng 6/1972, tôi đang thu tranh, tre để chuẩn bị cho năm học 1972-1973 của trường cấp 3 Kỳ Anh.Thầy và trò đang làm việc dưới bóng phi lao trước cửa văn phòng nhà trường tại xã Kỳ Văn.Tôi thấy một người đi chiếc xe đạp favorit vào phòng làm việc của thầy hiệu trưởng Lê Văn Khánh.Khoảng 30 phút sau thầy Khánh ra chổ thầy trò đang ngồi, sau vài câu hỏi thăm, thầy Khánh nói: “Huyện ủy, ủy ban mới có quyết định một số vấn đề trong năm học mới, đồng chí chủ tịch vừa sang, mời anh vào  cùng tiếp thu.”

 
Vì đã quen biết trước, không cần giới thiệu nữa, đồng chí chủ tịch Nguyễn Toát vào thẳng vấn đề. Đồng chí Toát nói: “ tình hình giặc Mỹ có khả năng đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, điều kiện đi, về của học sinh mấy xã phía bắc phải qua cầu Kênh, cầu Cà, cầu Cao, đường quốc lộ gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm.Vì vậy thường vụ huyện ủy quyết định sẽ tách một số lớp của trường cấp 3 Kỳ Anh thành phân hiệu của trường ở phía bắc. Tôi sang để truyền đạt tinh thần nghị quyết của thường vụ huyện ủy đồng thời trao đổi với nhà trường một số vấn đề có liên quan. Nhà trường cần có kế hoạch triển khai sớm để kịp cho năm học mới”.Sau đó đồng chí chủ tịch và thầy Khánh còn trao đổi thêm một số vấn đề nữa.Khi bắt tay chúng tôi ra về đồng chí Toát vui vẻ nói: “khó khăn thì thật nhiều đó, nhưng chắc chắn là khắc phục được”.

  Thầy Khánh bảo tôi ở lại. Thầy Khánh nói: “bây giờ các thầy giáo về nghỉ hè chưa đến trường, các thầy trong cấp ủy cũng đang nghỉ hè cả (thầy Mỹ - bí thư chi bộ, thầy Ngô - thư ký công đoàn), anh bàn giao sổ sách về số vật liệu đã thu được để ngày mai ra ngoài đó làm công tác chuẩn bị”.
Vì trường cấp 3 Kỳ Anh  đã đóng ở vùng Kỳ Giang, Kỳ Tiến từ những năm 1965 nên thầy Khánh rất thông thạo địa bàn các xã phía bắc.Thầy Khánh phân tích :“ xã Kỳ Phong thì nằm trên quốc lộ 1A, không đặt trường được, xã Kỳ Bắc thì có trạm trung chuyển của bộ đội, chỉ còn lại xã Kỳ Tiến. Trong xã Kỳ Tiến thì xóm Quyết Tiến các đơn vị vận chuyển thường giấu xe ở đó, nếu lở máy bay địch phát hiện thì rất nguy hiểm, còn hai xóm Kim Tiến và Hoàng Diệu là có thể đặt trường được. Anh ra ngoài đó xin ý kiến và nhờ ủy ban xã giúp đở xin đia điểm đặt một số lớp từ trường cấp 3 Kỳ Anh tách ra. Anh ra chuẩn bị trước vài hôm sau tôi ra”. Để tránh máy bay địch, hôm sau tôi ra Kỳ Tiến rất sớm.Đầu tiên tôi ra gặp cố Trâm Ngôn ở xóm Quyết Tiến,( Cố Trâm Ngôn mấy năm trước là hội trưởng phụ huynh học sinh của trường cấp III Kỳ Anh). Sau khi nghe tôi trình bày mục đích và nội dung mà tôi ra đây, cố Trâm Ngôn rất nhiệt tình, cố đưa ra mấy vị trí để nghiên cứu. Cố nói : “phải tìm chổ nào để học sinh đi về được nhiều đường, phân tán nhanh, không bị lộ mục tiêu”. Chiều hôm đó cố Trâm Ngôn cùng tôi đến ủy ban xã Kỳ Tiến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày những nội dung mà nhà trường nhờ giúp đở, một đồng chí trong ủy ban nói : “Vấn đề này chúng tôi đã nhận được chỉ thi của huyện ủy rồi, bây giờ ta cùng bàn đặt địa điểm ở đâu cho thích hợp, có tập thể ở đây ta cùng trao đổi cụ thể”. Sau khi bàn bạc,  ủy ban xã cử một đồng chí  cùng tôi xuống xóm Hoàng Diệu để chọn vị trí. Để đảm bảo an toàn chúng tôi chọn 3 vị trí để làm 3 lán học ở phía sau của xóm Hoàng Diệu.
Ngày hôm sau tôi lại trở về trường sớm để báo cáo kết quả làm việc với thầy hiệu trưởng. Thầy Khánh nói : “Tôi định chiều nay ra ngoài đó, nhưng anh đã làm được như vậy là tốt rồi, tôi không phải ra  ngoài đó nữa. Việc tìm được 3 địa điểm là rất tốt, tuy chưa thống kê số lượng học sinh lớp 9 và lớp 10 ở các xã phía bắc  là bao nhiêu nhưng chắc chắn không quá 3 lớp, nếu tuyển thêm học sinh lớp 8 nữa tối đa cũng  chỉ 6 lớp, có 3 lán, học ngày hai buổi như vậy là vừa”.Vì sợ máy bay địch phát hiện, không thể huy động lao động tập trung nên phải mất khoảng 10 ngày học sinh của bốn xã Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phong, Kỳ Bắc thay nhau đào hạ thấp đất, đắp lủy xung quanh mới làm xong mặt bằng một lán học. Cuối buổi chiều một ngày đầu tháng 7/1972 khi tôi đang nhận xét tinh thần làm việc trong ngày và bố trí lao động ngày hôm sau thị nhận được thư  của thầy Dương Ngô từ một học sinh của trường Kỳ Anh đưa tới (em Đào Thị Minh học sinh lớp 9). Nói là thư nhưng thực ra chỉ là một mảnh giấy nhỏ trên đó ghi bằng bút chì có nội dung : “ Tỉnh có quyết định thành lập trường mới, anh về trường làm việc”. Số giáo viên trường Kỳ Anh chuyển ra trường mới trước (nói là trường mới vì chưa có tên trường) gồm có Tôi và thầy Phan Lương dạy toán, thầy Lê Sỹ Châu dạy  sinh vật, thầy Biện Văn Thạch, thầy Nguyễn Phùng Nhị, cô Nguyễn Thị Thường dạy văn. Mấy hôm sau thầy Đặng Vượng và các thầy : thầy Lạc (dạy địa lý),thầy Oanh ( dạy hóa), thầy Túy ( dạy toán), thầy Hiến ( dạy sử), cô Thao (cấp dưởng ) lần lượt chuyển về trường mới.Trong số giáo viên, cán bộ về trường mới lúc đó có hai người là đảng viên đó là thầy Đặng Vượng và thầy Phùng Nhị.Thầy Đặng Vượng là đảng viên lâu năm lại đã từng công tác ở miền nam nên đảm nhiệm công tác nhà trường. Từ đó thầy Vượng làm việc như một hiệu trưởng, từ phân công giáo viên phụ trách lớp, phụ trách lao động, phụ trách thu vật liệu, liên hệ với ủy ban các xã, ủy ban huyện…vv. Một lảnh đạo anh em tự suy tôn nhưng giáo viên và học sinh rất tuân thủ, làm việc vô tư và vui vẻ lắm. Đến cuối tháng 9 thì đã làm xong được 3 lán để học và một nhà ăn tập thể. Bàn ghế và sách giáo khoa chưa có nên lại phải vào mượn của trương cấp 3 Kỳ Anh.Vì ngày đó trong số giáo viên ở trường mới chỉ mình tôi có xe đạp nên tôi được “ưu tiên” về trường cấp 3 Kỳ Anh liên hệ. Thầy Khánh cho mượn 30 bộ bàn ghế, 23 bộ sách giáo khoa (đủ cho 3 khối) để thầy cô giáo có tài liệu giảng dạy. Lúc đó thầy Khánh nói vui : “Anh phải viết giấy mượn vì bây giờ là trường anh, trường tôi rồi, không phải trường chúng ta nữa”, nhưng sau này trong một lần tôi có dịp về trường Kỳ Anh tôi nhắc lại chuyện tôi đang nợ thầy bàn ghế và sách giáo khoa thầy lại nói: “coi như của chia cho con ở riêng mà”.
Thầy giáo Nguyễn Ngọc Châu

Việc đưa được 30 bộ bàn ghế và sách giáo khoa từ trường cấp 3 Kỳ Anh về trường mới lúc đó không hề đơn giản vì phương tiện vận chuyển không có, hạ tầng giao thông khó khăn và phải vận chuyển vào ban đêm để tránh máy bay giặc.Tôi phải thuê anh Xoan (anh Xoan là lao công của trường cấp 3 Kỳ Anh) hết 30 đồng ( ba mươi đồng), anh Xoan huy động thêm 3 người nữa mới chuyển  hết số bàn ghế và sách giáo khoa ra ngay trong đêm hôm đó.

  Vì vừa học vừa phải đào hào làm hầm trú ẩn nên học sinh lớp 10 là lớp cuối cấp, được ưu tiên học liên tục từ cuối tháng 9 còn học sinh lớp 8 và lớp 9 phải vừa học vừa lao động đào hào làm hầm.

  Đến giữa tháng 10/1972 thầy Trần Mậu Chước nhận quyết đinh của Ty giáo dục Hà Tĩnh về làm hiệu trưởng nhà trường và mang quyết đinh của tỉnh thành lập trường lấy tên là trường cấp III Nguyễn Huệ. Như vậy lich sử ra đời của trường Nguyễn Huệ là làm trường trước, học trước rồi sau đó mới có tên trường.

II. Trường Nguyễn Huệ khai giảng lần đầu tiên vào ngày, tháng, năm nào?

  Cuối tháng 9/1972 học sinh lớp 10 được ưu tiên học liên tục, còn học sinh lớp 8, lớp 9 thì học được 2,3 ngày lại nghỉ để lao động củng cố đào hào làm hầm nên thời gian nghỉ nhiều hơn thời gian học. Mãi đến tối ngày 4/12/1972 họp hội đồng tại phòng học lớp  9B-8B mới quyết định khai giảng vào ngày 6/12/1972. Lúc họp xong mở đài radio thì đã nghe đồng chí thứ trưởng bộ giáo dục lúc đó (hình như là ông Võ Thuần Nho) đọc kế hoạch sơ kết học kỳ I năm học 1972 – 1973.

III. Lời kết:

Nhớ lại những ngày đầu của trường còn nhiều kỷ niệm lắm , như chuyện mua cái đài Orionton và 20 cái loa kim từ Thạch tiến về,chuyện tất cả các thầy cô băng mình giữa  trời mưa to, gió lớn vào Kỳ Tân nhập hộ khẩu, chuyện liên hoan  các thầy chuyển từ ăn chung với dân ra ăn bếp ăn tập thể vv….

  Mới ngày nào sơ khai mà nay đã 45 năm. Bao nhiêu kỷ niệm lại hiện về rỏ nét. Số thầy cô giáo năm đầu tiên giờ  còn gắn với nghề có  thầy Tứ dạy ở Đức Thọ, thầy Túy làm hiệu trưởng trường PTTH Nguyễn Thị Bích Châu ở Kỳ Anh, số còn lại đã nghỉ hưu. Thương tiếc  các thầy :Thầy Thạch, thầy Lương, thầy Niêm, thầy Nhị không còn sống nữa .

  Nhìn thấy sự trưởng thành của trường về mọi mặt hôm nay,những thành quả lớn lao mà các thế hệ thầy giáo và học sinh lớp sau đã nổ lực phấn đấu đạt được, bản thân tôi cũng có chút tự hào về ngôi trường mà cách đây 40 năm lúc buổi mới thành lập trường mình đã góp chút sức xây dựng và giảng dạy. Hy vọng rằng thầy và trò thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục phấn đấu để trường Nguyễn Huệ luôn phát triển xứng đáng với ngôi trường mang tên vị anh hùng dân tộc.

NguoiKyAnh.info - Nhớ hồi còn là đứa học sinh đi học mặc quần rách đụng, mình và đám bạn cứ trông được đến dịp lễ 30-04. Không phải trông để được nghỉ xã hơi mấy ngày như bây giờ, mà là sau mấy ngay nghĩ ấy là hè đến. Nó như cánh cửa mở hè ra cho lũ học sinh vậy. Nhớ buổi học cuối cùng khi cô giáo bảo chúc các em về chơi hè vui nhé, nhớ phải nghe lời bố mẹ đấy. Thế là đám con trai cứ thẳng cổng trường mà cắm đầu cắm cổ chạy. Chạy ra tới sông cởi quần áo nhảy bùm bùm xuống tắm một trận đã đời.


Tắm sông cũng như là món “khai vị” cho một mùa hè ở quê. Nhớ lần đó thằng Bình Ranh bị đứa nào thu hết quần áo. Thế là hắn chỉ còn nguyên cái quần cộc, người ướt như chuột lột vừa đi vừa khóc hu hu nói mẹ cha thằng mô thu của tau, về tau méch mẹ, hung nhởi vì bây nữa. hì hi. Thấm thoắt vậy mà đã bao nhiêu năm qua đi. Có nằm mơ cũng không thể trở về được. 


Hồi đó nhà mình có độc một con trâu. Bình thường thì mình lười đi chăn trâu, toàn trốn với lý do học bài. Bố thương mình thế là ông lại thả cho đi theo bầy, hay ông lại tự dắt nó ra đồng. Vậy mà hè đến, mới sáng sớm tinh mơ mình đã đội nón ra chuồng dắt “chị” trâu ra đồng. Làm bố mình mắt tròn mắt dẹt, không tin nổi. Nói chà chà răng mà bữa ni hắn siêng rứa hè, siêng rứa hè. Hi. Ông đâu có biết là mình dành đi chăn trâu để thỏa chí tung hoành.

Hè về cũng là khi bà con thu hoạch vụ hè thu thế là đồng rộng mênh mông. Tha hồ mà thả trâu. Có lần mãi chơi trò ngụp lặn với lũ bạn ở mương (kênh) trâu đi mất. Chiều tối đám bạn đứa nào cũng có trâu dắt về. Còn mình đứng tụt ngủn giữa đồng khóc hu hu nói ui mất trâu rồi, mất trâu rồi mần răng hè. Cũng may là tối trâu nó cũng biết đường về nhà, vì thế mà mình tránh được trận đòn nhừ tử. Với lũ trẻ làng quê như bọn mình ngày ấy nói trâu là bạn bè cũng chẳng ngoa tí nào. 

Không như bây lũ trẻ chẳng biết đến trâu triếc gì. Vì chẳng nhà nào nuôi trâu nữa cả. Suốt ngày trên lưng trâu. Nhiều lúc chán nản một mình còn “tâm sự” với nó. Vậy dân gian mới có câu “trâu ơi ta bảo trâu này, trâu ăn no cỏ trâu cày với ta”. Hi. Dạy cho nó cách ăn, răn nó không được ăn lúa. Vậy mà cứ hễ dắt đến gần ruộng lúa, ăn được vài mồm cỏ mắt nó lại liếc ngang liếc dọc làm mồm lúa. Mình chửu sao mi ngu rứa, rồi cầm mũi giật giật nó mấy phát đau quá cũng phải bỏ ra. 

Về mình nói ông anh con bác răng em nói hoài mà trâu không nghe, răng nó ngu rứa biết. Anh mình nhìn mình nói có mi ngu thì có, không nghe người ta nói ngu như trâu à. Ờ, ờ nhỉ. He Nhớ năm mình học lớp một bố tự nhiên mua về con trâu mạ. Ngày đó mình chưa biết trâu mạ và trâu đực thì ảnh hưởng gì tới mình. Khi đi chăn trâu mình hay đi phía sau, để dục nó đi cho nhanh. Vậy là mấy ông anh lớn cứ chọc vờ thằng ni ăn rồi đi theo đít trâu mạ tề, đi theo l** trâu tề. Mình tức quá khóc hu hu bước lên trước trâu, vừa đi vừa nói dừ em đi trước rồi nhá, dừ trâu mạ đi theo em đó nhá. Hi hi. 

Hồi đó được đi học, được đi dự trâu, được tắm sông, và được ăn cơm với thịt lợn. Thì đúng là không còn gì sướng bằng. Có cho cả đống tiền nhiều lúc còn lưỡng lự ấy chứ. Hi. Những trưa hè nắng nứt đất nẻ đai, cả bọn cứ trần truồng nhảy xuống sông mà tắm. Nắng bao nhiêu, ngâm nước bao nhiêu mà cũng chẳng xi nhê gì. Đôi khi cũng chỉ sụt sùi tí mũi. Còn bây giờ chỉ cần dầm một cơn mưa là ốm dầm ốm dề. Hết chịu nổi.hi. Mà nước sông đâu phải sạch sẽ gì, trâu và người rắm chung với nhau. Nước đục ngầu, đen sì. Nhảy xuống nước chỉ cố ngậm cái miệng lại cho chắc, khỏi uống nước còn thứ khác thì mặc kệ. Còn một thứ không thể không nhắc tới trong mùa hè đó là đi hái Sim.


Vào giữa tháng 6 âm lịch, những đồi sim tím ngắt, cao chót vót leo cả tiếng đồng hồ mới tới nơi. Vậy mà đứa nào đứa nấy cứ hở là rủ nhau đi hái.Vừa leo dốc vửa cùng nhau hát " những đồi hoa Sim tím, ôi những đồi hoa sim tím.." hi. Có nhà đông người còn đi hái về bán lấy tiền. Mình chỉ mong hái được mà ăn là may mắn lắm rồi. Mình còn nhỏ bố không cho đi, vì sợ leo dốc ngã. Có lần trốn đi theo mấy chị cùng làng, tối về bố biết vừa về tới cửa ông bảo ra lấy cái roi rồi vô dường nằm. Mình run run lôi từ trong áo ra một bich Sim bự, tròn xoe nói con đi ngắt (hái) về cho em với bố ăn mà. Hai đứa em gái mình thấy Sim là nhảy vô, mừng đáo để. Bố cảm động quá, vì lần đầu mình mang được "cái ăn" về nhà. Ông bảo đi tắm rửa, ăn cơm mau. Ùi chầu, vậy là thoát được một trần đòn nhừ tử. hi hi. Mừng rơn luôn. Mình cười mà hàm răng tím như Sim.

Ảnh: Võ Quỳnh Hoa

Còn nhiều “món” ngon mùa hè của trẻ quê nữa mà chưa kể hết được. Háo hức hè là như vậy nhưng đứa nào cũng nhớ trường. Đi chăn trâu về qua trường, lại đứng lên mình trâu nhòm qua cổng nhìn ngó một tí cho đỡ nhớ. Có thằng bạn mãi mê ngắm, trâu đi khi nào không biết ngã oạch phát gãy mất một cái răng. Đứng dậy nhặt răng lên khóc hu hu nói gãy răng rồi, không coi trường nữa, không nhớ trường nữa. Ẻ u nhởi nựa, ẻ u nựa.

Hè hè Mấy đứa bạn nói răng khung hết hè với hè, dự trâu nhiều nhọc (mệt) quá, ngài(người) đen như cục than rồi. hì hì. Mong hè đến chơi cho đã đời rồi lại “đuổi” hè đi. Đúng là chỉ có ở trẻ quê. Không cực khổ, nắng gió thì đâu có trẻ nào lại chê hè đâu chứ. hic hic.
Cù Lú

NguoiKyAnh - Đi à mô ai cụng hỏi: "Quê bạn có đặc xản gì hông, chắc gió lào cát trắng không hen"


Gớp, khinh ngài và vưa, đừng chộ quê choa rứa, nói xin lội chứ đặc sạn thì có mà đầy, bây về ăn cạ năm cũng nọ hết. Đồng quê nắng cháy, ngài lớn lên được, thì đặc sản cũng phải đặc biệt, phải ngon.


Nói khung phẩy láo chứ cù đơ choa cắm méng vô mồm là ngon ba năm, mần ngụm nác chè nựa thì sướng khung mần chi chù hết. Rồi mực nhảy à, chào oi, bỏ nác lạnh mà lọc lên chấm mói cụng ngon nựa, ăn cấy là khung muốn về mô. (riêng đặc sản ni dừ nghe buồn, vụng áng ơi là vụng áng)


....Mới điểm qua 2 món thôi nả, mà đạ nghe sướng chưa. Nói chung là đặc sản ngài choa như quân nguyên. Cứ về thì biết.

Lộ khác họ lại hỏi "ủa, cu đơ là cái gì zậy"

Và chà, cù đơ mà không biết cấy chi, khung biết thôi, kệ cha bây, hihi
#CuLu

Người Kỳ Anh - Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một bãi cát vàng, nước trong xanh như ngọc uốn vòng dưới chân núi, sơn thuỷ hữu tình như Vũng Áng lại bị một nhà máy nhiệt điện huỷ hoại

QUÊ TÔI VŨNG ÁNG

Tôi đã hiểu vì sao Kỳ Anh tan nát 
Mạch tâm linh chúng phá hết rồi
Các quan nhà đầu ngu muội thế
Hỏi ai còn cứu rỗi được quê tôi.

Núi than đen chắn trước mặt đền thờ thánh mẫu Nguyễn thị Bích Châu

Trước đền Thánh chúng lấp đầy rác rưởi
Bãi cát vàng nhiệt điện chúng dựng lên
Đất hương hoả chúng dâng vào tay giặc
Formosa lấp hết lối sông Quyền.


Tôi đi giữa quê hương mà không còn quê nữa
Đất ông cha giờ thuộc người Tàu 
Những hàng rào xi măng sắt thép
Biến quê thành vùng biên ải còn đâu.

Đứng trên Đèo Ngang nhìn về Vũng Áng
"Hoành Sơn nhất đái"...một kỳ quan
Than ôi, tiếng cuốc xưa vọng lại
Đau lòng Bà Huyện nước mắt chan.

"Những con thuyền nhớ sóng khơi xa"
Đền thờ thánh mẫu Nguyễn Thị Bích Châu

Bãi cát vàng bị hủy diệt bởi nhiệt điện Vũng Áng
Con sông Quyền thơ mộng

 Sông quyền bị Formosa chặn lấp
Xuân Lộc
Kỳ Anh, 29/10/2016


Trước mặt Thánh, quan be tuờng chiếm đất
 Nơi linh thiêng, than đen phủ oan hồn
Chu Hòa

Nguyễn Văn Tý cũng cảm tác:
Ôi quê tôi bây giờ sương gió.
Bãi cát vàng quẩn khói với than đen.
Em tôi ở đó thèm mực nhảy.
Nước mắt chiều tà với nhà máy điện than.
Ngọn gió nồm khói bao phủ vọng phu.
Mây mù gió lào bao phủ hải phong.
Có phai nơi đây cha con hồ quí ly long đong.
Thánh mẫu Bích châu dong hồn về hải khẩu.
 Biển cát vàng chỉ có bò và cẩu.
Vắng bóng thuyền đầu sóng ra khơi .

Quê Choa Plus - Một bài thơ nhận được nhiều đồng tình và cũng là một phần sự thật. Sau khi đọc xong bài thơ "Kỳ Anh kiên trung" của thầy giáo Nguyễn Tiến Chưởng đã có nhiều cảm nhận hay và xúc động từ độc giả, bài thơ là một trong số đó, chia sẻ cùng bạn đọc gần xa.

Bài thơ hay, hay vì lịch sử của ông cha xưa
Bởi tạo nên một Kỳ Anh thành bài ca hùng tráng.
Nhưng....



70 năm sau, không còn Kỳ Anh nữa
Đất Kỳ Thịnh, Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Nam, Kỳ Lợi trở thành 2 dòng máu.
Bởi gái ham giàu, nên yêu chuộng người Trung.
Rể thành con, đất nó chiếm của chung,
Qua bao thế hệ, trẻ con lấy nhau thành dòng máu nó.
Rồi chuyện xảy ra...
Dân Bắc vào Nam nó chận ngay ở giữa.
Đảo nổi, đảo chìm nó cũng liếm hết trơn.
Trên Biên đánh xuống.
Ngoài Biển đánh vào luôn.
Miền Trung...
Đòn gánh đâu còn để Bắc vào Nam còn thêm chi viện.
Hô hào chi, ca tụng chi.
Bởi lịch sử Huyện đâu còn.
Và rồi đâu thấy lại cảnh nước non.
Như Bà Cố Huyện Thanh Quan từng ví.
Đèo Ngang nay, đâu còn túp lều tranh lí tí.
Giờ nhà cao tầng, nhiều dãy phố " Chữ Trung "
Để khi dân quê mình đi xa, khách lạ ghé miền Trung.
Lại tiếc thời Đèo Ngang xưa một thời lác đác.
Ôi! Đây đâu phải Kỳ Anh, mà đây thành phố Trung Hoa, hào hoa phố nhạc.
Chữ Hán, chữ Nôm chính xác lại chữ Tàu.
Ôi!...kể mần chi nữa để rồi thêm đau.
Đời lại nối đời....
Tội Dân tui khổ mãi...

Trần Khánh Phúc

NguoiKyAnh - Bài thơ của thầy giáo Nguyễn Tiến Chưởng - hiệu trưởng trường Nguyễn Huệ, khi huyện Kỳ Anh "bỗng thành hai nửa"


KỲ ANH KIÊN TRUNG
(Kính tặng các Đồng chí lãnh đạo và Nhân dân huyện Kỳ Anh)

Sáng thức dậy, quê bỗng thành hai nửa
Thấu yêu thương đất Mẹ anh hùng
Mẫu Hải Khẩu vẫn nhìn ta rạng rỡ
Rất nhân từ và độ lượng, bao dung.
Mấy ngàn năm tươi cành chung gốc



Giờ phải ra đi, sao chẳng mủi lòng
Xin hãy gác những niềm riêng nhỏ nhặt
Giữ yên bình cho mạch đất cha ông.
Ta còn đó Tượng Sơn, Bàn Độ
Như Nhật, Long Trì, Vọng Liệu, Cung Voi…

Ta còn đó Hà Trung, Văn Miếu cũ
O Nhẫn Đan Du còn mãi sáng muôn đời.
Ta còn đó anh hồn bao liệt sĩ…
Đền Phương Giai nơi Đảng bộ ra đời
Lê Bá Cảnh, Nguyễn Trọng Bình ngời ngời chân lý

Thúc dục ta làm nên những mùa vui.
Ta về với Non Hương, Bàu Bạc
Dòng Lê xanh trong mát lòng ta
Bao gian khó dân sẻ chia, góp sức
Thị trấn rồi điện sẽ sáng nguy nga…

Hãy thức dậy biển bờ Xuân, Khang, Phú
Du khách về cho biển rộng dài thêm
Nông trang mở, đất mùa tăng thêm vụ
Hàng hóa giao thương, nồng ấm biết bao miền.
Vực dậy rừng, đồng quê, nguồn, lạch…

Ta đi lên từ sức mạnh lòng ta
Dòng mương nhỏ cùng hòa chung ngọt mát
Đất tươi lành sớm dâng những mùa hoa.
Vực dậy hết mọi vẻ quê thuần phác
Xây tinh hoa trí tuệ, tâm hồn

Chung sức lại ta làm nên Hạnh phúc
Trên quê mình nhân hậu, kiên trung.
Sức sáng tạo bồi thêm nguồn lực mới
Tiềm năng nào hơn được tấm lòng dân
Hiện thực hóa những gì dân mong đợi
Kỳ Anh ơi, yêu Mẹ đến muôn lần!

Quê Choa Plus - Ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 74 chiến sĩ Việt Nam kiên cường chiến đấu bảo vệ đảo và hy sinh vĩnh viễn nằm lại ở vùng biển Hoàng Sa. Để đến bây giờ Việt Nam vẫn còn lãnh thổ của tổ tiên nằm dưới tay quân bành trướng Trung Quốc
Đau cùng nỗi đau dân tộc hơn 40 năm qua, Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...
Mời các bạn nghe bản bi hùng ca Qua Đèo Ngang
Thơ Bà Huyện Thanh Quan
Nhạc, lời Hàn Thư Sinh


QUA ĐÈO NGANG

 Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, 
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa,
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác ven sông chợ mấy nhà.


Nước Nam hoa gấm trữ tình,
Sông sâu núi biếc, có mình (mà lại) có ta.
Trường Sơn Nam Bắc (í a) một nhà,
Nam Quan tái chiếm, Hoàng Sa vùng lên.

 Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia,
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.


Quê Choa Plus - Quê hương tôi có một cái nghề đặc trưng không lẫn vào bất kỳ một nghề nào khác được, nắng thì người ta chạy vào nhà mình lại phải chạy ra, mưa người ta tìm chỗ trú thì mình đang ở trong nhà lại phải "bay" ra. Hãi nhất là những cơn mưa giông ban chiều. Đã có một thời nhờ cái nghề ấy dân quê tôi có ăn có mặc, có của dành để sắm được những chiếc xe máy, những chiếc tivi màu, bọn trẻ đến trường nhiều hơn, có những cái áo trắng hơn…nhưng đó là chuyện của rất lâu rồi khi nghề muối lên ngôi, còn bây giờ ngôi làng của tôi hầu như chỉ có tiếng của người già, phụ nữ và trẻ con, tiếng người đàn ông đã không còn nhiều và đủ mạnh để hòa vào tiếng gió của những cánh đồng muối như xưa. Thực tế ấy không chỉ một mà nhiều ngôi làng như thế đã vắng dần tiếng đàn ông.

Hình ảnh người mẹ trên cánh đồng muối đã đi vào cuộc sống của tôi
Cái nắng như cắt da, cắt thịt khiến cho nhiều người phải thu mình trong nhà nhưng ở kyha quê tôi thì cứ hơn mười hai giờ trưa là tiếng gọi nhau í ới ra đồng muối lại thất thanh lên. Trên những con đường đất nhỏ gập nghềnh, tiếng xe cút kít quay từng vòng từng vòng theo bước chân của người phu muối. Bọn trẻ con đánh trần vác cào bừa đi nghênh ngang dưới nắng cháy như rát thịt. Có lẽ chúng đã quen với cái nghề gắn liền với chúng nó kể từ lúc sinh ra và trớ trêu thay cái nghề đó gắn liền và lại cần một khí hậu khắc nghiệt. Trong cái nắng đốt như rát thịt thì chúng nó lại thấy thích thậm chí là vui bởi nắng cũng đồng nghĩa với việc một mùa muối thành công. Chúng nó sẽ có áo mới, có bộ sách mới và có thể thực hiện được ước mơ tới trường. ở một vùng quê như tôi thì muối chính là tất cả, là cái ăn, cái mặc, là ước mơ. Chính vì thế họ yêu cái nắng, yêu sự khắc nghiệt dẫu họ biết điều đó có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của họ.

Muối - những cánh đồng bát ngát, phẳng lỳ, không một bóng cây với những lạch nước xen kẻ giữa những thửa đất cát. Cánh đồng ấy chính là sự kết hợp giữa màu xanh của nước biển, làn da ngăm đen của (diêm dân), màu trắng của muối và màu vàng của những giọt mồ hôi. Tất cả được hòa quyện trong vị chát đắng của muối. Giữa cái nắng như vậy không biết bao nhiêu tấm áo đã thấm đẫm mồ hôi, bao nhiêu đôi mắt đã mờ đi vì cái rát và cái mặn của muối. Thế nhưng mỗi buổi chiều trên cánh đồng ấy vẫn ngập tràn tiếng cười nói của những người phu muối, tiếng rùi rít, hớn hở của trẻ con khi những hạt muối đầu tiên được bốc lên xe, thêm vào đó là tiếng hát trên loa phát thanh xã hòa quyện vào tiếng gió, tiếng thì thầm to nhỏ của những nhà có thửa ruộng muối gần nhau. Không biết cánh đồng muối ấy đã nuôi lớn bao nhiêu con người vùng quê ấy, đã gieo bao nhiêu ước mơ về với mọi miền tổ quốc. Tiếng hát trong loa phát thanh lại cất lên, những bài hát ca ngợi về tổ quốc thân yêu. Buổi chiều trên quê tôi thật đẹp nhưng cái đẹp toát lên sự nghèo khó và cơ cực.



Dẫu khắc nhiệt nhưng làng quê tôi vẫn đep, vẫn trọn tình như những bài thơ!

Từ 4-5 giờ sáng, những diêm dân ở ven biển đã phải ra đồng để bắt đầu một quy trình sản xuất muối. Lọc những thớ đất đầu tiên, phơi nắng cả ngày cho tới 5-6 giờ chiều họ mới có được hạt muối. Họ phải lao động cực nhọc dưới cái nắng “cháy da, cháy thịt” nhưng chưa bao giờ người dân ở những cánh đồng muối hưởng trọn niềm vui của một vụ muối được mùa. Năm được mùa thì lại rớt giá, năm được giá thì lại mất mùa. Nhưng trớ trêu thay những năm gần đây vừa mất mùa lại vừa rớt giá. Những cánh đồng muối vẫn còn nhưng những người phu muối vắng dần đi, họ phải nhắm mắt bỏ đi cái nghiệp gắn liền với họ để xa xứ làm ăn.

 Làm muối là nghề truyền thống, duy trì hàng trăm năm nay ở quê tôi. Tuổi thơ của tôi đã gắn liền với những cánh đồng muối, ngoài giờ đi học, tôi làm muối với bố mẹ, tôi lạch cạch xách ấm nước chạy theo chân mẹ ra phía cánh đồng. Từ nhỏ tôi đã quá quen thuộc với việc xúc đất, phơi đất, bừa đất, tưới nước, lọc nước… Một vùng quê mà con người thật vất vả, họ làm quần quật bất kể cái nắng như thiêu người nhưng cái nghèo, cái đói vẫn bám lấy vùng quê ấy chính vì thế đã có nhiều diêm dân quay lưng với nghề muối, nhiều người đã không còn mặn mà gì với muối nữa khiến nhiều ruộng bỏ hoang giữa lúc chính vụ. Những người “diêm dân” đang phải nếm chịu vị chua, chát, đắng, cay của muối. Họ vẫn chưa biết rồi ngày mai "trời sẽ nắng, mưa" thế nào.

Người Kỳ Anh - Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một bãi cát vàng, nước trong xanh như ngọc uốn vòng dưới chân núi, sơn thuỷ hữu tình như Vũng Áng lại bị một nhà máy nhiệt điện huỷ hoại

QUÊ TÔI VŨNG ÁNG

Tôi đã hiểu vì sao Kỳ Anh tan nát 
Mạch tâm linh chúng phá hết rồi
Các quan nhà đầu ngu muội thế
Hỏi ai còn cứu rỗi được quê tôi.
Đền thờ thánh mẫu Nguyễn Thị Bích Châu

Trước đền Thánh chúng lấp đầy rác rưởi
Bãi cát vàng nhiệt điện chúng dựng lên
Đất hương hoả chúng dâng vào tay giặc
Formosa lấp hết lối sông Quyền.

Tôi đi giữa quê hương mà không còn quê nữa
Đất ông cha giờ thuộc người Tàu 
Những hàng rào xi măng sắt thép
Biến quê thành vùng biên ải còn đâu.

Đứng trên Đèo Ngang nhìn về Vũng Áng
"Hoành Sơn nhất đái"...một kỳ quan
Than ôi, tiếng cuốc xưa vọng lại
Đau lòng Bà Huyện nước mắt chan.

"Những con thuyền nhớ sóng khơi xa"
Núi than đen chắn trước mặt đền thờ thánh mẫu Nguyễn thị Bích Châu

Bãi cát vàng bị hủy diệt bởi nhiệt điện Vũng Áng
Con sông Quyền thơ mộng

 Sông quyền bị Formosa chặn lấp
Xuân Lộc
Kỳ Anh, 29/10/2016

Trước mặt Thánh, quan be tuờng chiếm đất
 Nơi linh thiêng, than đen phủ oan hồn
Chu Hòa

Nguyễn Văn Tý cũng cảm tác:
Ôi quê tôi bây giờ sương gió.
Bãi cát vàng quẩn khói với than đen.
Em tôi ở đó thèm mực nhảy.
Nước mắt chiều tà với nhà máy điện than.
Ngọn gió nồm khói bao phủ vọng phu.
Mây mù gió lào bao phủ hải phong.
Có phai nơi đây cha con hồ quí ly long đong.
Thánh mẫu Bích châu dong hồn về hải khẩu.
 Biển cát vàng chỉ có bò và cẩu.
Vắng bóng thuyền đầu sóng ra khơi .
Người Kỳ Anh

Người Kỳ Anh - Mười năm cho một bài thơ nằm nguyên trên gác kệ, giờ đây nó đã không còn trọn vẹn nữa. Quê hương cũng đã khác xưa.

"KHÚC HÁT SÔNG QUÊ"

Trần Hồng Quân

Em có biết? Quê anh có một dòng sông
Chiếc cầu bắc qua, suối rì rào ca hát
Nơi đầu nguồn, mây ngàn bát ngát
Gió vẫn reo vui tha thiết đợi em về.

Em đã bao giờ, nghe khúc hát sông quê
Luống cày của cha, Rơm mạ vàng của mẹ
Anh đã lớn khôn, mảnh đất cằn như thế
Em có ghé về nơi ấy một dòng sông?




Tình yêu ơi! Em có hiểu cho không?
Anh đã đứng trên cầu, Anh đã đợi
Dưới chân cầu, thời gian theo dòng suối
Trên đầu cầu, mây vẫn lững lơ trôi.

Chỉ có tình yêu, không lay chuyển nữa thôi
Vĩnh viễn chờ em, đi cùng năm tháng
Mấy chục xuân qua, sống cuộc đời yên lặng
Có làn sóng nào? Cuồng nhiệt thế đâu em?

Để bây giờ anh sống giữa quê hương
Nơi con nắng, thiêu khô bờ bải tắm
Nơi ấp ủ, một tình yêu sâu lắng!
Cứ đợi em về, nơi ấy một dòng sông.

"Khúc hát sông quê", dào dạt nỗi nhớ mong
Tím trời hoa sim, cũng một màu thương nhớ
Lũ trẻ thơ, theo đàn bò gặm cỏ
Tiếng suối rì rào, tha thiết gọi tên em.

Nếu có một ngày, em ghé lại Kỳ Anh
Em mới biết sông quê, đang nghiêng mình đổi mới
Áo trắng thơm, trên đường em đi tới
Bước chân em, nào kịp với thời gian?

Vùng Thượng ở đây, trên bát ngát rú ngàn
Có tiếng chim ca, giữa vườn hoang dã
Mời em đi, ta trở về miền hạ
Biển Kỳ Xuân, tôm cá vẫy vùng.

Đất Kỳ Phương, chín cô gái anh hùng!
Một trăm bẩy mươi năm rồi, lịch sử!
O Nhẫn với câu hò, cùng điệu buồn tha thứ
Sóng vẫn vỗ về, nơi cữa bể Bích Châu.



E lệ ánh mắt, rồi nhìn vào trong nhau
Cho xuyên suốt Đèo Ngang
Để qua cầu Sông Rác.
Và chót vót, trên vùng cao Thượng, Lạc
Kỳ Lợi đường xa, Vũng áng phía chân tàu.

Đất Kỳ Anh, vẫn lắm gió, mưa nhiều
“Nơi chảo lửa túi mưa” đã bao đời vẫn vậy
Em có thấy không? Quê hương anh, đang đổi mới
Đứng vươn lên cho Vũng áng tươi màu.

Cho điểm hẹn đông vui, miền du lịch Mũi Đao
Cho Đoàn xe nối đuôi nhau, từ bạn Lào về Xứ Nghệ
Đất Kỳ Anh, đã bao đời dâu bể
Nay xanh tươi áo đẹp giữa đời thường.

Đã bao giờ, nghe khúc hát một lần thương
Nghe sóng biển rì rào, dưới chân tàu Vũng áng
Quê hương anh, nay trở thành điểm hẹn
Em có ghé về, nghe "khúc hát sông quê".

Bát nước chè xanh, trong ánh nắng trưa hè
Vẫn thơm mãi, hương thơm đồng nội
Đã một lần ghé qua, xin em đừng vội
Để cảm nhận đôi điều về "khúc hát sông quê"./.

Kỳ Anh 07/4/2006.

THƯƠNG QUÊ  
Xa quê lâu lắm chưa về 
Hôm qua nhận được tin quê mà buồn! 
Cá, tôm chết trắng một vùng
 Ngư dân, thuyền, lái để không trên bờ 



Nguyên nhân do Phọc Mô Sa 
Thải chất độc hại chảy ra biển mình! 
Hải lưu lan tỏa Quảng Bình, 
Thừa Thiên, Hà Tĩnh quê mình cùng chung 

Dân chài lâm cảnh khốn cùng 
Biết tìm đâu được con đường sinh nhai??? 
Xuống biển, biển đã chết rồi 
Lên bờ còn khổ gấp mười mà́ thôi! 

Rác thải chôn, đổ khắp nơi 
Gieo bao độc tố ở nơi thượng nguồn 
Lâu ngày thấm, ướt ruộng vườn 
Cây trồng nhiễm độc, ao, chuồng hết nuôi!

Sinh ra kiếp một con người 
Phải ăn, phải uống, sinh sôi giống nòi! 
Giờ đây phó thác cho Trời 
Còn đâu dám quyết như hồi ngày xưa 

Đời mình chẳng nói làm chi 
Đời con, đời cháu, biết về đến đâu??? 
Một khi cá ở biển sâu 
Lúa, gạo, rau, qủa...ăn vào chẳng yên 

Chất độc cứ thải triền miên 
Bao vây khói, bụi...bình yên sao đành??
 Ngày xưa, vách đất, nhà tranh 
Cọng rau, con cá, ngon lành bữa ăn 
Ngày nay mang tiếng thị thành
Nhưng dân tình huyện Kỳ Anh vẫn buồn!!!

Hỏi ai những kẻ không hồn
Mê đô la, tham nhũng cội nguồn lại quên??
Miệng cứ hô hào huyên thuyên
 Lương tâm, trách nhiệm mà quên đồng bào ??
 Giang tay đón bọn Tàu vào
 Để dân hệ lụy, khổ đau khốn cùng!
 Kêu Trời, Trời thấu hay không?
Biết kêu ai - giữa mênh mông, mịt mù????
Tặng bà con Kỳ Anh 
Cao Quang Vinh

TỰ KHÚC THÁNG 7
Máu của Ông, Cha từng đổ xuống Đèo Ngang
Một dãi Giang San
Hoành Sơn Quan đi vào Lịch sử
Mảnh đất gầy khô
Oằn lên đòn gánh mẹ
Cho hai nửa Sài Gòn cùng Hà Nội thống nhất quê.



Chiến tranh đã lùi xa, Anh và đồng đội, cũng chẳng về
Máu đã trộn cùng non sông, theo chiều dài của nước
Cho đất tổ, được vẹn tròn sau trước
Vinh quang này, tạc dáng đứng Việt Nam.

Vệt thời gian, xin lùi lại tháng năm
Đắp đổi không gian, đổ vàng chiều tháng 7
Ai? Đứng nghiêng mình, trôi theo dòng lệ chảy
Triệu triệu trái tim, hòa cùng "nến tri ân"!

Ai? Đã nhầm đường, xin dừng lại bước chân
Để sám hối với anh linh các anh hùng liệt sỹ
Người ngã xuống, vùi sâu lòng đất mẹ
Cho ta vui, con cái rộn tiếng cười.

Ai? Đã từng gây nên, cảnh máu chảy đầu rơi
Kích động chiến tranh, biểu tình, lật đổ
Xin hãy hiểu, nỗi đau người thương binh, mỗi đêm trời trở gió
Mắt rưng rưng, mảnh đạn cắm trong mình.

Ai? Đã từng giã tâm, gây oán thán điêu linh!
Ngoảnh mặt, vênh vang, lấy "nồi da xáo thịt"
Thì hãy nhớ! Đạo làm người, phải biết
Máu của Ông, Cha, đâu rửa sạch tội đồ.

Tháng 7 quê mình, nắng rát gió Lào khô
Nghe chuyện thị phi, giữa dòng đời vạn biến
Nguyện! Dâng trái tim hồng, nghiêng mình cùng ánh nến
Xin tiếp bước anh hùng, cho đất nước tồn vinh.

TRẦN HỒNG QUÂN
Người Kỳ Anh



LẠI KẾ CHUYỆN QUÊ

Bất kỳ đi đến đâu 
Hay đọc tờ báo nào 

Cũng có chuyện xôn xao

Về Kỳ Anh ta cả 

Về Thị nhà (TX) ta cả !
Nói ra thì xấu hổ 
Nên im lặng, thầm thì 
Chẳng dám nói làm chi
Nhưng báo đăng ra rả
Báo tỉnh nhà ra rả!







Chuyện kề ra hơi cũ

Vụ giáo viên hợp đồng

Năm ngoái của Kỳ Anh
Sau thưa kiện loanh quanh
Các cơ quan đã họp
Tỉnh, Bộ, ngành đã họp!
Việc tưởng chừng kết thúc
Không còn để kéo dài
Khỏi ảnh hưởng tương lai
Của giáo viên huyện, thị
Của học trò huyện, thị!
Nhưng địa phương lị rị
Văn bản đã nhận rồi
Biết ai đúng, ai sai
Không triển khai, kiểm điểm
Không phê bình, kiểm điểm!
Đây đúng là thực trạng
Trên bảo dưới không nghe
Mà chỉ Kỳ Anh ta
Còn các nơi nghiêm cả
Họ chấp hành nghiêm cả!
Mấy cô, thầy đã khổ
Mất danh dự, mất tiền
Tưởng được tiếng giải oan
Khỏi uổng Công thưa gửi
Qua tháng ngày thưa gửi!
Đó mới là một nỗi
Còn nỗi lo liền kề
Việc thi tuyển nhiêu khê
Bằng Trung cấp ở lại
Đại học "xa gần" ở lại!
Nhiều cô, thầy ái ngại
Trung cấp cũng là bằng
Hay đại học xa gần (ĐH từ xa)
Nhà nước ta mở cả
Trong nước mình dạy cả!
Đâu phải học bên Mỹ
Nỏ phải học bên Tàu
Hợp đồng dạy cũng lâu
Không ưu tiên chi cả
Chẳng đoái hoài chi cả!
Giờ như trâu gặm cỏ
Ngậm phải bụi cỏ già
Biết làm răng kêu la
Có kêu cũng chẳng ra
Vì trên đâu nghe thấu
Huyện làm gì nghe thấu!
Vinh quang nghề nhà giáo
Dạy dỗ cho bao người
Nhưng riêng việc mình thôi
Nói nỏ ai nghe cả
Chẳng ngành nào nghe cả!
Chuyện bây giờ đã lỡ
Xin nhà nước hãy dừng
Đừng đào tạo bằng Trung
Hay đại học xa, gần
Cho nhân dân khỏi tốn
Con em mình đỡ tốn!

Còn một chuyện lộn xộn
Ở tại Phường Kỳ Phương
Một đám đất khai hoang
Cách đây mấy chục năm
Của ông Cảnh rõ ràng
Nhưng lại được các quan
Cấp thành hai sổ đỏ
Hai nhà hai số đỏ!
Ông Cảnh bao hết cả,
Ở giữa cấp ông Danh
Qua thời sống hòa bình
Nay quê biến lên Thành
Đất có giá lên nhanh
Nên Danh ra kiện Cảnh
Ông Danh liền kiện Cảnh!
Sự đời nhiều xoay chuyển
Quan cũng thay lung tung
Để lại mớ bùng nhùng
Cho Cảnh, Danh ngồi gỡ
Tự hai người ngồi gỡ!
Hỏi lại coi cho rõ
Cơn cớ tại vì ai?
Do chủ quan làm sai
Hay ngu si chỉ bảo
Hay bạc tiền chỉ bảo???

Còn một chuyện cơm gạo
Việc dời chợ năm rồi
Từ thông tin loa đài
Rất thành công, thắng lợi
Đạt chương trình thắng lợi!
Nhưng thực tình mà nói
Chợ mới chứa ngàn hai
Tiểu thương chỉ vào ngồi
Cỡ khoảng năm trăm hộ
Số còn lại để đó
Thật lãng phí đầu tư
Trong khi đó ngoài kia
Hình thành nên chợ tạm
Dân hình thành chợ tạm!!
Thuế nhà nước cũng giảm
Tiểu thương bị thất thu
Môi trường sống bẩn, nhơ
Đường giao thông thu hẹp
Xe, ra vào thu hẹp!!

Nhiều chuyện muốn viết tiếp
Nhưng nỏ viết chi nhiều
Dân dài cổ réo kêu
Nỏ ăn thua chi nựạ
Mình viết nhiều chi nưạ!!

Bao nhiêu chuyện như thế
Cũng đủ để hiểu rôi
Tôi cứ mong quê tôi
Sống bình yên vô sự
Sng yên bình vô sự!

Tháng 4/2016, Cao Quang Vinh
Người Kỳ Anh



MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget