Halloween Costume ideas 2015
Articles by "Tư Liệu - Tra Cứu"
Afamily An ninh - trật tự An Ninh Thủ Đô Ảnh Đẹp Ăn Ngon Âm Nhạc Ẩm Thực Báo Chí Báo Công An Nhân Dân Báo Dân Sinh Báo Đất Việt Báo Giao Thông Báo Hà Tĩnh Báo Mới Báo Nông Nghiệp Báo Tiền Phong Báo Tin Tức Báo Tuổi Trẻ BBC Bí Quyết Bí Quyết Khỏe Và Đẹp Biển Chết Biển Đông Biển Kỳ Anh Biển Vũng Áng Bizlive Bói Vui bóng đá Bùi Mạnh Hùng Cá Chết Cá Gỗ Cafebiz CafeF Cafekubua Cảm Xúc Cảm Xúc Kỳ Anh Cao Quang Vinh Chăm Sóc Da Châu Á Chia Sẻ Chiến Tranh Chính Trị Chợ Kỳ Anh Công An Kỳ Anh Cộng Đồng Mạng Công Nghệ Cù Lú Cung Hoàng Đạo Cuộc Sống Cư Dân Mạng danviet.vn Dạy Con Dân Ca Nghệ Tĩnh Dân ca Ví giặm Dân Trí Diễn Đàn Diễn Đàn - Chia Sẻ Dinh Dưỡng Du Học Du Lịch Đại Kỷ Nguyên Đàn Ồng Đảo Sơn Dương Đặc Sản Kỳ Anh Đèo Ngang Đẹp Đẹp + Đẹp Mãi Kỳ Anh Địa Danh Kỳ Anh Điện Ảnh Đọc & Suy Ngẫm Đông Yên Đời Sống Eva Facebook Formosa Genk Gia Đình Giadinh.net Giải Trí Giáo Dục Giáo dục Kỳ Anh Giáo Dục Việt Nam Giao Thông Giới Tính Giới Trẻ Góc Chuyên Gia Góc Con Gái Góc Của Nàng Góc Nhìn Gương mặt Kỳ Anh Gương Mặt Trẻ Hà Chương Hà Tĩnh Hạnh Phúc Hay Hẹn Hò Hoa Hậu Hoành Sơn How To Hội Đồng Hương Kỳ Anh Hôn Nhân HUMANS OF KỲ ANH Huyện Kỳ Anh Infonet iSenpai Japan Times Kênh 14 Khám Phá Khoa Học Khoẻ Khỏe+ Khu KT Vũng Áng Kĩ Năng Mềm Kiến Thức Kinh Doanh Kinh Tế Kỳ Bắc Kỳ Giang Kỳ Hà Kỳ Hoa Kỳ Hợp Kỳ Khang Kỳ Lạc Kỳ Lâm Kỳ Lợi Kỳ Nam Kỳ Phong Kỳ Phương Kỳ Sơn ký sự pháp đình Kỳ Tân Kỳ Thư Kỳ Thượng Kỳ Trinh Kỳ Văn Kỳ Xuân Làm Đẹp Làm Giàu Làng Nghề Lao Động Lê Quyết Diễn Lịch sử Mai Phương Mạng Xã Hội Mầm Nhỏ Mẹ - Con Menzine Mẹo Chữa Bệnh Món Ăn & Sức Khỏe Môi Trường Mới Lạ Mùa Đông Mực nháy Nghệ Sĩ Nghiên Cứu Lịch Sử Ngô Sỹ Ngọc Ngôi sao Nguyễn Ngọc Anh Nguyễn Tiến Chưởng Nguyễn Xuân Lộc Ngư Dân Kỳ Anh Người Đô Thị Người Đưa Tin Người Kỳ Anh Người Lao Động Nhà Quản Lý Nhạc Biển Chết Nhạc Kỳ Anh Nhật Bản Nhịp Sống Trẻ Nikkei Asian Review Ô Tô Phan Đình Hoàng Quảng Phan Quang Phóng Pháp Luật Pháp Luật TP HCM Phim phong cách Phố Voi Phụ Nữ Phụ Nữ & Gia Đình Phụ Nữ Sức Khỏe Phường Kỳ Thịnh Qua Đèo Ngang Quan Hệ Quốc Tế Quang Tiến Quân Sự Quê Choa Xấu Xí Quốc Tế Rong Rêu (Võ Xuân Tùng) Rôn Vinh Sách Hay sáng tạo saostar Sex SGGP Online Soha Sống Sống Khỏe Sông Quyền Suy Ngẫm Sức Khỏe Sức Khỏe - Y Tế Sức Khỏe & Đời Sống Tạp chí Phái Đẹp ELLE Tạp Chí Sức Khỏe Tâm Sự Tết Quê Thành Công Thanh Niên Thanh Niên Online Theleader Thế Giới Thể Thao Thể Thao Văn Hóa Thị xã Kỳ Anh Thông Tấn Xã Việt Nam Thông Tin Từ Thiện Thơ Biển Chết Thơ Quê Hương Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Thời Sự Thời Trang Thương Về Miền Trung Tia Sáng Tiến Điển Tiền Phong Tiếng Nghệ Tĩnh Tín ngưỡng Tin Tức Tin Tức Kỳ Anh Tinh Hoa Tình Yêu Tóc Tôn Giáo Trần Hồng Quân Trần Khánh Cẩm Trần Xuân Tiến Tri Thức Trẻ Trí Thức Trẻ Tri Thức Việt Nam Trung Quốc Truyện - Bút Ký ... Trường Cấp III Kỳ Anh Trường THPT Nguyễn Huệ Tuổi Trẻ Tuổi Trẻ Online Tuyển Sinh Tư Liệu Tư Liệu - Tra Cứu Ung Thư Văn Hóa Văn Hoá Truyền Thống Video Video - Ảnh Video Sức Khỏe Vietfuture Vietnamfinance Vietnamnet VietQ VnEconomy VnExpress Võ Tú Võ Xuân Hùng VOV Vov.vn VTC News VTV Xã Hội XKLĐ Y Học Cổ Truyền Y học thường thức Y Tế Yêu Zing

NewVnNews - Từ “biệt phủ” mới xuất hiện gần đây trong tiếng Việt (có nhẽ là từ ngày có cái Việt phủ Thành Chương cũng nên?).
Biệt phủ 200 tỷ xa hoa như Tử Cấm Thành của 1 đại gia Nghệ An 

Trong tiếng Hán không có từ “biệt phủ”, nên có thể khẳng định “biệt phủ” là từ được tạo nên từ các yếu tố gốc Hán “biệt” và “phủ”.

”Phủ 府” trong tiếng Hán gồm 5 nghĩa:


1. Xưa chỉ nơi biện lí công vụ của quan lại, nay chỉ cơ quan chính quyền nhà nước, như “quan phủ”, “tỉnh phủ”, “chính phủ”.

2. Xưa chỉ nơi ở của quan to và quí tộc, nay cũng chỉ nơi làm việc và nơi ở của những đầu não quốc gia nào đó, như “vương phủ”, “tổng thống phủ”.

3. Nơi tụ tập hoặc sum họp, như “học phủ”.

4. Từ cung kính dùng để gọi nhà của đối phương, như “phủ thượng”, “quí phủ”.

5. Xưa chỉ nơi tàng trữ sách vở và đồ vật của quan địa phương, như “phủ khố”, “lục phủ”, “thư phủ”.

6. Xưa chỉ khu hành chính cao hơn huyện một cấp, như “châu phủ”, “Khai Phong phủ”, Tây An phủ”.


Còn “biệt 别” thì mang nghĩa giống như “biệt” trong từ “biệt thự 别墅"(tiếng latinh: Villa)của tiếng Hán.
“Biệt thự" trong tiếng Hán có nghĩa là “ngôi nhà tách biệt”, nên "biệt" ở đây có nghĩa là "tách biệt". Thời xưa chỉ những người đã có nhà chính (thường ở nội thành) lại có thêm nhà thứ hai ở chỗ khác (thường ở ngoại ô) gọi là "biệt thự", còn được gọi là “biệt nghiệp 别业“.

Biệt thự (villa) của người La Mã cổ ở Châu Âu thường là nơi ở tại ngoại ô của những gia đình sở hữu nhiều nhà cửa, được xếp vào tầng lớp tinh anh giàu có hoặc có quyền lực trong xã hội.

Như vậy, có thể hiểu "biệt phủ" trong tiếng Việt là từ để chỉ một tổ hợp nhà ở tách biệt của các quan chức, nhà giàu thời nay.

NewVnNews - Xin trân trọng giới thiệu đến bà con xứ Nghệ 500 trăm câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao chọn lọc của xứ Nghệ Tịnh. Đã là thành ngữ, tục ngữ, ca dao thì có câu tục câu thanh. Nhưng dù tục hay thanh khi được dùng đúng lúc đúng nơi phù hợp với hoàn cảnh thì đều mang đậm hồn quê. Mọi người sưu tầm và giới thiệu để bổ sung thêm nhé.

1. Mờng như mụ tra được mấn mới
2. Ai cười l... con nít ai cười địt mụ tra
3. Mần ăn như tru dậm chạc mụi
4. Nác đến khu bù mới nhảy
5. Khéo nói hơn bạo mần
6. Tốn nác rác nhà
7. Mặt như chạc cày bện ba
8. Mắt thì mù lộ khu thì sáng
9. Ăn cho nên đọi nói cho nên lời
10. Ăn vô khôông to ngang thì cụng nậy dọc


11. Trốôc trấy bù khu trấy ổi
12. Mất cộ chộ mới
13. Éc trửa đàng mang vô cổ
14. Béo như con trấn mấn
15. Hết mưa thì hết nác trọt
16. Trăm rác lấy nác mần sẹch
17. Mụ tra bằng ba lần con nít
18. Đút trốôc thì lòi khu
19. Chưa ra khỏi truông đạ trật cặc cho khái

20. Muốn nói khôông mần nhôông mà nói
21. Lời nói đọi máu
22. Mồm như đòn xóc hai đầu
23. L...ở lổ cổ đeo hoa
24. Con gấy lấy nhôông đàng ngái như khái tha vô lòi
25. Lu bu như khu thầy bói
26. Khéo vẹ cho đị xăn mấn
27. Oi trộông khu du rộông mồm
28. Ngu như lộ khu đàng trốôc
29. Nhà có nghẹc véc có lộ tai


30. Diều chưa đặt cắt đạ tha
31. Mần ả ngả mặt lên
32. Đừng chộ l... nhỏ mà vo c... lại
33. Thông đan lóng mốt dốt đan lóng đôi
34. Mần như đồ ẻ trịn
35. Giàu con nít béo lợn con
36. Mưa buổi mai mài rạ đi rú
37. Mau tay hơn tày đụa
38. Mần ăn như ga mắc tóc
39. Muốn nói ngoa mần mụ gia mà nói

40. Sứa nhảy qua đăng
41. Cha tra nhà thốt
42. Ba voi khôông được đọi nác xáo
43. Cặc dui lắm ló cặc lọ lắm con
44. Bền cặc lọ hơn bền gọ lim
45. Mất mồng vớ véc
46. Ướt cặc đặc nồi
47. Ăn như oi trộông khu
48. Ở nhà kêu chú vô rú kêu enh
49. Sướng lộ khu su con mắt

50. L...lạ cá tươi
51. Một l...lạ bằng cả xạ l...quen
52. Tiền ít đòi hít l...thơm
53. Du vô nhà mụ gia ra đôồng
54. Tiền được một đồng đòi ăn hồng khôông hột
55. Lao nhao như bồ chao bể ổ
56. Kít ga nơi bỏ mun nơi
57. Chịu được khói mới chịu được lời nói mụ gia
58. Thiên hạ đạ đồn khôông chồn thì cáo
59. Du dự mất họ chó dự mất láng giềng

60. Trời đi ẻ té khu
61. Dùi cui chấm nác mắm
62. Hèn tru(trâu) hơn bạo bò
63. Tru(trâu) trậm uống nác đục
64. Ma hớp hồn không bằng l... hớp vía
65. Đ...thì nắt gắt thì sót
66. Bụng bù khu dui
67. L...nằm(xâu) ngả cá xâu nghiêng
68. Nhịn ăn nhịn mặc chơ khôông nhịn c... cho ai
69. Đ...trửa mặt nắt trửa l...

70. Chẳng thà mất trào rọng cựa chơ không chịu mất nửa hòn cặc
71. Đói cơm mói cụng ngon
72. Sảy cha có chú sảy mẹ bú gì
73. Ngủ như tru sít mụi
74. To vụ bụ con nhiều con ròn mẹ
75. Chin đi trự bát dứt khoát l... to
76. To chin đạp ló nhỏ chin đi đàng
77. Khôông có chó bắt mèo ăn kít
78. Thứ nhít phạm phòng thứ nhì lòng lợn
79. Cha bòn con bỏ

80. Đàn ôông rộông miệng thì sang đàn bà rộông miệng tan hoang cựa nhà
81. Siêng gánh nác nhác đi ẻ
82. Lúc nỏ có mà coi lúc cả voi lận ngựa
83. Đi một ngày đàng họoc một sàn khun
84. Tru lấy mụi mà dắc đàn bà lấy c... mà lôi
85. Chó sủa giai ngài nói chọt
86. Họoc thì túi như hụ đ...thì sáng như gương
87. Cá biển ba trào cá rào ba lả
88. Cơm mô cho đầy bụng chó ló mô cho đầy bụng ga
89. Trên mồm con chó dưới mỏ con ga

90. Tay khôông nói nỏ nên điều
91. Đòng đòng thì ngọt roi mót thì đau
92. Cá đù ăn khu bỏ trốôc
93. Gan trùn mợ mọi rẹn cột nhà
93. Mèo mù vớ cá rán
95. Mục dục có mô đến cộ thứ mười
96. Đàng ngái bái xa
97. Nói bụi tre nhè bụi hóp
98. Chị em du như bù nác đấy — chị em gấy như trấy cau non
99. Địt khỏi khu tru khỏi ràn

100. Múa gậy nương hoang mắng làng một chắc
101. Mần như ẻ vẹ như rồng
102. Gấy nhôông trẻ đi ẻ cụng nhớ
103. Mặt dày như khu mấn cập
104. Cáo chết chó cụng le lại
105. Khun con rạ dại con so
106. Tùa trời úp vẹm
107. Chưa khỏi mồm ôm cục nghẹn
108. Mặt ngu như tru đau ẻ
109. No cơm tấm ấm áo cập

110. Chết đuối vớ được cọc
111. Con nít nghe địt thì dạ
112. Khun như ma trên đất
113. Anh em trai như khoai chấm mật
114. Đại kít ga lấy tấm
115. Ào ào khôông hao bằng nác rịn
116. Chó chui gầm chạn
117. Túi đàng cày sáng đàng hò
118. Tru hay ác thì tru dạc sừng
119. Rèo con trâu đực khôông bực bằng chực bựa ăn


120. Đẹp mặt ngặt lưng
121. Cứng xương dai da
122. Đui hay ngóng ngọng hay phô
123. Quan ăn tiền thằng dại khái ăn thịt thằng đần
124. Của khôông ngon đôông con cụng hết
125. Liếm như chó liếm thớt
126. Tru tóm nhóm về sừng
127. Càng quen lèn càng đau
128. Quá mù ra mưa
129. Có cá đổ vạ cho cơm

130. Mần như tru húc mả
131. Một trăm ôông chú khôông lo — Chỉ lo một thỉ mụ o nhọn mồm
132. Cưa sừng mần nghé
133. Đắt chè hơn rẻ nác
134. Ăn coi nồi ngồi coi hướng
135. Lươn đi để nhớt cho oi
136. Mặt trơ trán bóng
137. No thì l... l... c... c... đói thì sặc sặc méng ăn
138. Ba cha bảy mẹ
139. Ga cồ lặt tấm mẳn

140. Đừng chộ đỏ tưởng chín
141. Ga đẻ ga tục tác
142. Chưa chi đạ tếch hếch lộ mụi
143. Ngúc ngoảy như trớng quoảy đòn xóc
144. Đen da trắng nác đấy
145. Mệ dòng rách mấn lòi khu, đêm nằm mọi đút cảy tu hu cấy l...
146. Một vốn bốn lời
147. Khỉ ho cò gáy
148. Lạt mềm buộc trặt
149. Khôông ưa đổ thừa cho xấu

150. Đem con bỏ chợ
151. Một mất mười ngờ, một ngờ mười tội
152. Uống nác khôông trừ cặn
153. Đau hơn hoạn
154. Ăn phường rú đ... thầy hoọc
155. No dồn đói góp
156. Chim sa cá nhảy
157. Cú kêu ma ăn
158. Xắc xắc vô bụi tre
159. Nhét cá lòi dam

160. Ré ăn càn tran ăn mặt
161. Kêu như tù xin ẻ
162. Trèo cao té đau
163. Tru tra ẻ lấm lè
164. Cười như tru hít l...
165. Lo bò trắng răng
166. To mồm tốn nác chấm
167. Mang tơi nhát bò mạ
168. Tắn khôông chin trèo năm rừng bảy rú. Ga khôông vụ nuôi đủ chín mươi con
169. Mất lòng trước được lòng sau

170. Ghin tre cậy phía ghin mía cậy cơn
171. Bụt nhà khôông thiêng
172. Được con em sèm con ả
173. Được con ả muốn cả con em
174. Rậm lôông mày dày lôông l...
175. Nhít bửa củi nhì nhủi dam
176. Mưa tránh trắng nắng tránh đen
177. Xấu như ma mút mà nhả
178. Bằng chin như vại
179. Mua củi bán quế

180. Đi đàng thua trộ đấy, đi cấy thua ménh trù
181. Cá nhảy vô oi
182. Hắn lú có chú hắn khun
183. Nhiều tiền ăn nạc ít tiền vạc xương
184. Kít đàn ôông bằng côông đàn bà là
185. Trăm gái khôông bằng giái trai
186. Nói cơn cà ra cơn kê
187. Như chó phải dùi
188. Tru đẻ trửa mùa cấy gấy đẻ trửa mùa gắt
189. Rờ rờ như ma rờ l... ốm

190. Chưởi cha khôông bằng pha tiếng
191. Thằng còng mần thằng ngay ăn
192. Ăn no ẻ to đốông kít
193. Enh trật c... ả chổông khu
194. Nác chảy lộ trụng
195. Trai ở rể như chó chui gầm chạn
196. Ngài đít gióng kẻ gạy đòn triêng
197. Của vô tay vọoc móoc mô ra
198. L... lá vôông cho khôông nỏ lấy, l... lá ngấy đắt mấy cụng mua
199. To cơn lớn trấy

200. Kít cá hơn lá rau
201. Mồm ra sau lộ tai
202. Ai cầm c... cho ai đấy
203. To trôốc mà dại
204. Trục cúi to hơn trặp vả
205. Ngủ như chó cúc no sựa
206. Một đứa cháu bằng sáu đứa kẻ cướp
207. Nắng chòi nghẹc mưa toét trời
208. Sôống cho có đức thì khôông có sức mà ăn
209. Ngủ ngay quen mắt ăn trắt quen mồm

210. Nói đồông quang sang đôồng rậm
211. Con dại cái mang
212. Biết có sốông đến mai mà để cổ khoai đến mốt
213. Có lả mới có khói
214. May hơn khôn, to l... hơn đẹp mặt
215. L... xấu dấu cho l...
216. Mần đị chín phương để một phương lấy nhôông
217. Kít bại chó bầy
218. Con khóoc mẹ mới cho bú
219. Trêu chó chó liếm mặt

220. Ai biết ngá mà giác (khải)
221. Mồm ra sau lộ tai
222. Hàng to đẹp mặt hàng vặt lắm lời
223. Ăn chắc mặc bền
224. Vơ đụa cả nắm
225. Cháu bà nội tội bà ngoại
226. Xay ló thì khỏi bồông em
227. Nói đàng quàng nẻo
228. Thôi chay thầy đi đất
229. Hắn dại có ôông vải hắn khun

230. Sẹech như chó liếm khu
231. Cờ đến tay ai ngài ấy phất
232. Mèo què phải trận chó đòi
233. Chó cắm áo rách
234. Nhùng nhằng như dao cắt thịt bụng
235. Láu táu như cháu kẻ cướp
236. Nuộc lạt bát cơm
237. Nác lụt lút cả làng
238. No bụng đói con mắt
239. Lật đật đất đè

240. Lèenh thì mần gáo bể mần môi
241. Trật mấu cà chua
242. Ngài tám lạng kẻ nửa cân
243. Nhôông ghét thì ra mụ gia ghét thì vô
244. Loay xoay như cộ xay gạy cốt
245. Chợ chưa họp kẻ cắp đạ đến
246. Bỏ giỗ mắng họ
247. Máu loãng hơn nác lạnh
248. Chàng làng chèo chẹt nỏ mần chi ai. Cu cu rúc rích nuôi trai troong nhà
249. Biết thì thưa thốt khôông biết thì dựa cột mà nghe


250. Dốt hay nói trự
251. To môông rộông háng đáng trự tiền
252. Của l... nhắc của c... l... quên
253. Họoc thì dốt chộ l... tốt thì muốn
254. Mần thì dục dặc chộ c... thì mờng
255. Chưa đập được ngài mặt đỏ như vang. Đập được ngài rồi mặt vàng như nghệ
256. Chạch chê lươn lắm nhớt
257. Ra đàng hỏi tra về nhà hỏi trẻ
258. Bắt chí cho mụ gia chộ đa đa trên rú
259. Măng quá tre đè khôông lại

260. Một ngay giổ cha ba ngay húp nác
261. Chin chưa vô ngọ mỏ đã vô nhà
262. Bé khôông dạy lớn bẻ gạy ngành
263. Chó cậy nhà ga cậy truồng
264. Cha bán củi con chết rét
265. Dai như đĩa đói
266. Tóc dài ngài đẹp
267. Dai như cặc tru loọc nồi bù
268. Khun mô đến trẻ khỏe mô đến tra
269. Đẹp phô ra xấu xa đậy lại

270. Thịt thúi hơn mói bùi
271. Tru bạc đi mô mất mùa đó
272. Muốn ăn lăn vô bếp
273. Gắp lả bỏ tay ngài
274. Khun ba năm dại một giờ
275. Muốn ăn gắp bỏ cho ngài
276. Khun nhà dại chợ
277. Cơm đàng cháo chợ ai lợ ăn nấy ăn
278. Lủi như chạch
279. Dạ trước mặt trật c... sau khu

280. Lơ ngơ như bò đội nón
281. Lắc ngắc như c... cố tra
282. Gây đâm khôông bằng dằm xóc
283. Thúi như kít ga sáp
284. Chó ngáp phải ròi
285. Cháy nhà ra mặt chuột
286. Chặt khôông đít nấu nít nồi
287. Lạc đàng bắt đuôi chó lạc ngọ bắt đuôi tru
288. Con dại để l... thằng khun xấu mặt
289. Nói trước bước khôông qua

290. Gạo lưng chum dệ bớt
291. Một mất mười ngờ
292. Mồm hả như tráo tráo
293. Đói trục cúi phải bò
294. Mặt xenh nenh vàng
295. Thằng chết cại thằng đi chôn
296. Ngài như ga loọc ba nác
297. Việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng
298. Lòng tru cụng như dạ bò
299. Khun con hơn khun của

300. Lăng xăng như thằng mới đến
301. Rú rừng chẻ ngược vườn tược chẻ xuôi
302. Hẻ chết thì mua cua chết thì vất
303. C... nhỏ mà đòi đ... voi
304. Chị em ai đầy nồi nấy
305. Giàu cha giàu mẹ được nhờ, giàu enh giàu chị ai mần nấy ăn
306. Giam tru trưa nát ràn
307. Được bạn mất bè, được con tru trậm chê me khó cày
308. Ăn của rừng rưng rưng nác mắt
309. Đen như kít chó

310. Mần như chó liếm kít lá tre
311. Ăn cơm mắm cáy ngáy khò khò, ăn cơm thịt bò lo cặm cạy
312. Nóng tay bắt tai
313. Đau tiếc thân lènh tiếc của
314. Đói rau đau thuốc
315. Tra ngài khôông tra dại
316. Ngài mắt su tru mắt lồi
317. Chôổng khu chó liếm
318. Lạy khu cao hơn trôốc
319. Ngài thì roi voi thì búa

320. Tốt mái hại trôống
321. Một trự dự một trăm
322. Gan trời phổi mọi
323. To đàng cấy nậy ngả ba
324. Thẩm lẩm có tấm đầu đày
325. Cơm chạc nác nêm
326. Ăn trước trả sau đau hơn hoạn
327. Mồm năm mẹng mười
328. Lanh chanh như hành không mói
329. L... chưa chộ đã trỏ c... ra

330. Ăn như tấy đổ đó
331. Tru bạc ra đôồng khôông mưa giôông thì cụng đại hạn
332. Răng chắc c... bền
333. Đẻ con khun mát l...
334. Giấy rách phải giữ lấy lề
335. Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng
336. Dùi đục chấm mắm cáy
337. Siêng ăn nhác mần
338. Kéo gộ cốt lấy đà đ... chắc cốt cốt đàn bà hất lên
339. Cò ẻ mô đơm đó

340. Ngài bủng sèm của độc
341. Rau má đòi leo giàn
342. Bụng ỏng đít beo
343. Chạch ngắn chê lươn dài
344. Gái thở dài trai nằm sấp
345. Lăng xăng như lằng bu kít
346. Vắt nác mụi chưa sẹch
347. Mới nảy mỏ hoét
348. Dấu như mèo dấu kít
349. Rú một ngay cày một buổi


350. Đít chạc cày thì nối, đít con trối thì giằng, gạy lủng lẳng thì quăng
351. Trâu bò báng chắc ròi mọi chết
352. Muốn ăn dừa phải có cưa có đục
353. Đục nác thả câu
354. Khoai đầu vôồng nhôông đầu họ
355. Trục cúi ở mô lặc lè đó
356. Tôm chập choạng cá rạng đông
357. Chiện chiện vô rú xenh
358. Ăn mặn uống nác đỏ da, có sưng có sỉa mới ra con ngài
359. Nác đến trôn vo l... mà chạy

360. Tran ăn có mặt ma bắt có ngài
361. Trôốc cu cu khu bìm bịp
362. L... mó vó rút
363. Chó chê mèo lắm lôông
364. Mần rọng ba năm khôông bằng một năm mần đị
365. Lấy của làng đại ăn mày
366. Chưa nóng nác đã đỏ cọng
367. Nghịch như tấy trên cạn
368. Nói như thánh ẻ vô oi
369. Cọc đèn túi chin

370. Đồ ba phải
371. Ăn ba trác chưa uống nác đạ no
372. Mặt tù khu nhọn
373. Nòi chó đẻ
374. Đồ mặt mâm
375. Lóc xóc khôông bằng góc rọng
376. Mới đập chắc buổi trưa đạ mây mưa buổi túi
377. Cọc đi tìm tru
378. Nhoọ̣c thì lấy c... xoọc mà đeo
379. Có mới nới cộ

380. L... méo xéo c... xiên
381. Trự nghịa văn chương khôông bằng xương mắm lẹp
382. Khái cùn ăn đất sét
383. Muốn giàu đi bè muốn què khải nhơợng
384. L... ngọc đ... vàng
385. Xán rá đá kiềng
386. Nằm sấp khôông đập thì dại
387. Đàng quang khôông đi đâm quàng bụi rậm
388. Đàn ôông là nhà đàn bà là cửa
389. Trôốc như ổ ác

390. Nói phải cổ cải cụng nghe
391. Trơ trơ tráo tráo như gáo múc dầu
392. Hớc mỏ như cối trày đạp
393. Dân trại cả dại lận khờ
394. Chạy có cờ lộ khu
395. Đọi troong kiềng cụng có khi khắc chắc
396. Mần đị phải sắm giẻ lót
397. Khôông có voi lấy tru bò mần nậy
398. Mía ngọt vơ cả cụm
399. Thương nhôông thì khoóc mụ gia. Chơ tui vì mụ nỏ bà con chi

400. Thương nhôông nấu cháo cu cu. Nhôông ăn nhôông đ... như tru phá ràn
401. Lấy chi mà mấn mệ áo con
402. chuyện bé xé ra to
403. Mèo nhỏ bắt chuột lắt
404. Chị em du như tru đầu bịn
405. Mồm tru đi trước được ăn - Mồm ngài đi trước khó khăn trăm bề
406. Như thằn lằn mồng năm
407. Đi đi gặp tắn mắc may - Đi về gặp tắn roi cày vô lưng
408. Cá rọng ba trào cá rào nóng nác
409. Su ót lẹm cằm hư ăn hơn chó

410. Đen như kít chó
411. Thầy ngồi vầy đôống mun
412. Roi mót trót lộ khu
413. Toàn mẹo cặc ga
414. Mụt lẹo mà léo lá khoai, bựa ni mụt lẹo bựa mai mụt lènh
415. Chưa ăn cha rìu con rạ, ăn rồi cha ngả con nghiêng
416. Mần enh ăn sèm vác nặng
417. Lu chu như chuột chù húp nác mắm
418. Rau tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khun
419. Đồ mồm chó mực

420. Lấy của thằng miền xuôi nuôi thằng miền ngược
421. Đạ chết thì chết vụng cho su
422. Mạnh vì gạo bạo vì tiền
423. Éc mô chạc cày đó
424. Nác mưa cưa trời
425. Nón cời tơi rách
426. Đàn ôông đi ba đàn bà đi một
427. Cơm có bựa chợ có chiều
428. Gạo cộ dệ nấu nhôông xấu dệ sai
429. Hơn ngay hay điều


430. Độ ba lá dệ vun, ga mất mẹ mau khun, gấy đến thì mau nậy
431. Lau chau như hau hau được nác
432. Kê chớ lôông tra, cà chớ lôông non
433. Ló lổ lập hạ buồn bã cả làng, ló lổ thanh minh rung rinh cả xạ
434. Mắt su lộ đáo ngài tóm giơ xương
435. Ngài trên cơn khôông hại kẻ dưới bại thì rung
436. Ngái thì thương gin thì thường
437. Bươm như mấn đập chắc
438. Trớng quảy đầu giật
439. Ngái mỏi chin gin mỏi miệng

440. Nếp ngâm mà độ chưa chà, lòng em đạ thuận mẹ cha chưa ì
441. Tợn như khái mạ
442. Khôông chết nác rôông cụng chết nác rặc
443. Đói thì khát lạt thì sèm
444. Trụ như chó trụ nây
445. Du là con rể là khách
446. Tiền trao cháo múc
447. Cục trảy nảy cục ung
448. Vay quyền ả trả quyền em
449. Thương nhôông nấu cháo độ đen, nhôông ăn một đọi c... đen sì sì

450. Leo rú tội ngài cao lội rào tội ngài thấp
451. Gấy dại khôông hại bằng đụa vênh
452. Vôống đẹo khéo chựa
453. Lóc xóc khôông bằng cấy đ... có duyên
454. Đói ăn rau má rau khoai - Đừng ăn đọt chừa hư ngài con ơi
455. Nhận rau thì trồi bù
456. Lằm nhằm như dằm đâm tay
457. Bày cho chó tra liếm thớt
458. Ăn sau ốm đau chi cụng phải dọn
459. Đo tru mần ràn

460. Đó rách ngáng trộ
461. Nói thì hay đi cày ẻ té
462. Ăn cơm với trôốc cá tràu
Ai bày cho gấy lấy mủng gàu chấn nhôông
463. Trôốc ai chí nấy
464. Nói như ngài hai mồm
465. Ăn no kêu o bằng gì
466. Khiếp như chó khiếp pháo
467. Nốt mưa đấy ướt mấn
468. Đàn ôông cao cẳng thi tài
Đàn bà cao cẳng l... dài thước năm
469. Chộ ngài ta ăn mày cụng bắt kít bỏ bị
Chộ ngài ta mần đị cụng xéc mấn chạy theo

470. Đi khắp ba bể chín chu
Trở về chết đuối troong khu địa đèn
471. Mít ngọt nót cả xơ
472. Của bà thì đắt ai ngặt thì mua
473. Đắt xắt ra ménh
474. Cơm no bò cợi
475. Lởi xởi trời gởi của cho
476. Nhỏ ngài mà to con mắt
477. Thứ nhít ăn trộm trớng ga
Thứ hai bắt chí bỏ qua trôốc ngài
478. Đừng có địt mà chó hắn moọng
479. Trẻ ghe lúc ăn

480. Đứng bể nồi ngồi bể ấm
481. Đàn bà lo đẻ đàn ôông lo đi ẻ trời mưa
482. Trâu một tai ngài một mắt
483. Đời cua cua máy đời cáy cáy đào
484. Cờ bạc ăn thua về sáng
485. Cờ bạc chiêu tay mới
486. Ngang như.cua
487. Để tấm áo tháo tấm giẻ
488. Nói như đá xán
489. Nhẩy như vụng tru đằm

490. Trời đánh tránh bựa ăn
491. Khách đến nhà khôông trà thì rượu
492. Mần du thiên hạ
493. Thừa ó đến ác thừa chú bác mới đến ngài dưng
494. Đắt tiền kiến bò rẻ tiền cò bay
495. Nhà giàu đít tay bằng ăn mày sổ rọt
496. Ngài như cấy bị thịt
497. Râu tôm nấu với rọt bù
Nhôông chan gấy húp gật gù khen ngon
498. Thu du ăn, để rể ăn, cất mất ăn
499. Cả nôốc cả lái khôông bằng cấy dái hoọc trò
500. Mô rú mô rào mô nỏ chộ - Mô sông mô biển chộ mô mồ

Sưu tầm: Tiến Điển cùng CLB Nghệ Ngữ

NewVnNews - Công điện do Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội gởi về Washington DC, đề ngày 26 tháng 11 năm 2002 đưa ra cái nhìn toàn cảnh về “văn hóa tình dục” tại Việt Nam mà công điện gọi là “Sex and The City – Hanoi Style.” Tệ nạn xã hội ở Hà Nội Ðảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam xác nhận tệ nạn mãi dâm là vấn đề lớn của quốc gia. Vũ trường, quán karaoke, tiệm massage và các tụ điểm “giải trí,” ngay cả ở Hà Nội, nơi các dịch vụ mua bán dâm đang ngày càng nở rộ theo cách chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp.

Ảnh một vũ trường tấp nập tại Hà Nội, một hình ảnh khó có thể tìm thấy những năm trước và sau 1975 tại Hà Nội. Nhưng lại rất dễ bắt gặp tại Sài Gòn.

Tuy than phiền là vậy nhưng các giới chức chẳng làm gì mấy để trị cái tệ nạn xã hội này. Phần vì tham nhũng nhưng có lẽ lý do quan trọng hơn là vì họ còn phân vân, không chắc, phải chăng công chúng thà được hưởng thụ cái tự do mới tạo dựng nên, hơn là chấp nhận sống bị kềm kẹp trở lại và quay về với “đạo đức xã hội chủ nghĩa.”

Bất hạnh thay, vấn đề liên quan đến sức khỏe do hậu quả của kỹ nghệ tình dục đang gia tăng và không còn là chuyện đùa nữa. Lây nhiễm HIV/ AIDS cũng tăng đều đặn, mặc dù cán bộ nhà nước vẫn tiếp tục khẳng định, đa số lây nhiễm đều truyền qua ống chích khi sử dụng ma túy. Nạn buôn người phục vụ tình dục vẫn còn là vấn đề nhức nhối của nhà nước Việt Nam, mặc dù phụ nữ bị đem đi xuất cảng ra nước ngoài nhiều hơn nhắm vào thị trường nội địa. Nói cho cùng, lối sống về đêm và sinh hoạt xã hội ở Hà Nội đang ngày càng giống những thành phố khác trong vùng Ðông Nam Á, đặc biệt là TP.HCM. Giơ cao đánh khẽ Thông báo sau kỳ họp Hội Nghị Trung Ương đảng lần thứ 7, khóa 9, vào ngày 9 tháng 11 năm 2002, đảng cộng sản chấp nhận có “những vấn đề xã hội cấp bách” cần được quan tâm, đáng kể là “tệ nạn xã hội như nghiện ngập, đĩ điếm, tội ác,” cũng như tham nhũng.

Trong phiên khai mạc Quốc Hội khóa 11, vào ngày 12 tháng 11, 2002, Thủ Tướng Phan Văn Khải đề cập đến “những vấn đề xã hội cấp bách,” đặc biệt chỉ thẳng vào tệ nạn “hút xách, đĩ điếm và tội ác.” Tất cả đều không mới mẻ gì đối với các cán bộ cao cấp trong đảng và nhà nước Việt Nam và tuy nói mạnh mẽ nhưng không thấy có biện pháp cụ thể nào cả. Cuồng loạn ở các vũ trường Trong thập niên qua, nhờ thu nhập cao, tự do cá nhân được nới lỏng và không còn bị công an chú ý vào đời sống riêng tư, nhiều người dân Hà Nội lần đầu tiên có thể say sưa với lối sống tính dục. Tối thiểu Hà Nội có được ba vũ trường, nơi tụ tập khách trong hạng tuổi 20 đến 30. Cả ba đều mang bảng hiệu tiếng Anh: “New Century,” “Magic Moo,” và “Spark.” Một quán tên “Apocalypse Now,” mà khách ngoại quốc lui tới, tuy nhiên cũng có số lượng đáng kể dân địa phương. Rượu cô-nhắc ở đây nếu uống một đêm giá cũng bằng lương cả năm của một công nhân trung bình vì thế bia được ưa chuộng nhất. Dư luận đứng đắn khẳng định rằng “New Century” cũng là nơi lui tới để mua ma túy, ngay cả việc “phê” luôn tại chỗ, đặc biệt là thuốc Methamphetamine.

Những gì các nơi này có, lại ít thấy ở khắp Việt Nam. Rất nhiều cô gái đến đây một mình và hết sức thân thiện với đàn ông lạ. Hầu hết các cô tại vũ trường “New Century” thượng lưu này mặc áo dạ vũ dài (mà các cô phải khéo lắm mới đến đây bằng xe gắn máy được.) Lịch sự căn bản đòi hỏi quí ông nhảy với đào, trả cho họ tối thiểu một chầu uống cho mỗi lần nhảy, mọi thứ khác sau đó đều có thể thương lượng với nhau. Khác với các phòng trà ở TP.HCM trong những năm gần đây, nơi phải đóng cửa sau nửa đêm, vũ trường Hà Nội mở thâu đêm bảy ngày một tuần. “Hồng Kông Hà Nội” Quán karaoke bùng phát dữ dội. Trên khắp địa bàn thành phố Hà Nội có đến hằng ngàn quán do tư nhân làm chủ. Chúng từ thượng vàng đến hạ cám, sang trọng có hai khách sạn Daewoo và Fortuna, kiểu nhà nghèo có các túp lều nằm dọc theo con đường chạy lên phi trường Nội Bài cùng các nơi khác. Con đường chính từ Hà Nội chạy lên hướng Bắc, băng qua Gia Lâm, vừa qua cây cầu bắc qua sông Hồng là khu vực dân địa phương gọi là “Hồng Kông Hà Nội.” Vì tại đây tập trung dày đặc các quán karaoke cùng các “tụ điểm vui chơi khác.” Hầu hết các quán karaoke đều có đầy đủ các bản nhạc, từ tiếng Việt đến Anh, Hoa và Hàn. (Số người ở Hà Nội biết ca bản “Sealed with a Kiss” và “Unchained Melody,” nhiều hơn hẳn dân đi hát karaoke ở Mỹ.) Hầu hết các quán karaoke đều có phòng dành riêng, nơi nào ít lắm cũng có một phòng, trong khi có nơi lại đến hàng chục phòng. Ðể khách đến hát bớt lẻ loi, nhiều quán mướn thêm “tiếp viên” có ngoại hình tốt, để cùng ca với khách. Người Việt gọi dạng karaoke này là “karaoke ôm.” Các cô tiếp viên này rất nhiệt tình làm cho nam khách hàng được cảm thấy ấm áp trong căn phòng mở máy điều hòa lạnh buốt, để chống lại cái nóng của Hà Nội. Nhiều giai thoại có chứng cớ nói rằng các cô rời chỗ làm sớm, để đi đến những tụ điểm giải trí về đêm.

Thư giãn kiểu “Thái” Ðiều đáng mừng cho người dân Hà Nội nào bị đau lưng cứng cổ, đó là dịch vụ massage bùng lên mạnh mẽ trong nhiều năm qua. Ðến nay có đến hằng ngàn trung tâm, mà họ quảng cáo là massage “kiểu Thái.” Ðáng ngạc nhiên là đa phần các cô thợ đấm bóp đều xinh đẹp. (Vì một lý do nào đó, nhiều cô nói họ từ Sài Gòn ra đây hành nghề, nhưng cũng có thể lắm.) Hầu hết có phòng riêng để khách nằm đấm bóp, một số bên trong có thêm cả phòng tắm. Một “trung tâm giải trí” nhiều tầng mới xây xong, lối trang trí của nó một vài quan sát viên mô tả như là “nhà chứa kiểu cổ điển.” Chỗ này cách tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ chỉ vài căn phố, và báo cáo cho thấy do tư nhân đầu tư, vốn lên đến nhiều triệu Mỹ kim. Không những nhiều tầng có phòng đấm bóp riêng mà còn có thêm phòng tắm hơi, một hồ bơi nhỏ, nhiều nhà hàng, một bar rượu, và một khu hát karaoke.

Ngoài ra trong tòa nhà, nay có thêm nhiều văn phòng và chung cư cho thuê. Ðiểm hấp dẫn ở đây là các cô làm massage sẵn sàng “ra ngoài đi chơi” với khách. Nhà nghỉ Sau khi bằng lòng đi chơi với khách rồi, biết đưa nhau đi đâu đây? Họ tìm đến “nhà nghỉ” có khắp thành phố và ngày càng có nhiều ở vùng đồng quê. Hầu hết nhà nghỉ đều là những cơ sở nhỏ do tư nhân làm chủ và ít khi gặng hỏi khách hàng. Khác với khách sạn hoặc nhà khách, nơi muốn thuê phòng phải nộp chứng minh nhân dân hoặc sổ thông hành. Ðiều quan trọng là “nhà nghỉ” có cho thuê phòng theo giờ, chừng 7 đô la mỗi giờ. Một số chứ không nhất thiết tất cả, có nữ tiếp viên để phục vụ nhiều dịch vụ khác. Các ông thích đi “ăn phở” Chứng cứ do các tham tán chính trị thu thập được từ khắp nơi, cũng như từ các tài xế taxi, cho thấy dịch vụ tình dục ngắn hạn giá từ 100,000 đồng trở lên. Người Việt gọi việc đi ăn vụng này là “ăn phở,” trái với “ăn cơm” là “cây nhà lá vườn.” Cũng như các nền văn hóa Á Châu khác, nhiều đàn ông Hà Nội thích đi “ăn phở” chung với bạn bè thay vì đi một mình. Thường là sau một buổi chiều đi nhậu, đi hát karaoke, đi đấm bóp. Thăm dò cho thấy nhiều ông mỗi tuần đi “ăn phở” một lần, và kinh nghiệm tình dục đầu tiên trong đời của hầu hết các ông ở Hà Nội đều bắt nguồn từ các hình thức này.

Chuyện “sex” bên các bờ hồ Hà Nội với nhiều hồ nhỏ thường có nhiều công viên xinh xắn vây quanh, tạo điều kiện hấp dẫn cho các hoạt động “yêu đương” chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp. Công viên Lenin trở nên khá đông đúc vào lúc chiều tối. Mấy cặp trẻ tuổi chiếm lấy các chỗ riêng tư như ghế đá và bụi cây. Chơi ma túy cũng là một vấn nạn ở nơi đây. Kim chích dùng rồi lăn lóc đó đây trong công viên, các ghế đá đầy nhóc những dân ghiền, giờ nào cũng thấy họ cả. Công viên này còn là nơi hẹn hò lén lút của giới đồng tính có từ đầu thập niên 1980. Hồ Hoàn Kiếm ngày nay là nơi cung ứng những thanh niên tán tỉnh hết sức thân thiện với quí nam nhi. Tòa đại sứ khuyến cáo khách du lịch nên tránh xa các nhà vệ sinh công cộng ở đây. HIV/AIDS: Không phải chuyện đùa Theo báo cáo gần đây trên truyền thông chính thức, Bộ Y Tế tiên đoán đến năm 2005 số người bị nhiễm HIV/AIDS sẽ đến con số 200,000 người. Hiện con số người nhiễm thực sự là trên 154,000, với hơn 23,600 bị nặng và quá 20,000 đang chờ chết. Ða số quan chức Việt Nam tiếp tục lập luận rằng phần lớn lây nhiễm là do dùng chung ống tiêm chích ma túy; trong khi các chuyên gia tin rằng khuynh hướng này nay đang chuyển sang nguyên nhân do lây nhiễm qua đường tình dục.

Nạn buôn người Nạn buôn người ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề quan tâm đối với không những Việt Nam, mà còn các nhà quan sát khác, kể cả chính quyền Hoa Kỳ. Tuy nhiên hầu hết phụ nữ là nạn nhân buôn người đều nhắm vào nhu cầu của người nước ngoài, mặc dầu một vài đường dây buôn gái từ vùng thôn quê lên thành thị cho nhu cầu mãi dâm vẫn đang hiện hữu. Ðộng cơ kinh tế có lẽ là yếu tố khiến phụ nữ trẻ tự nguyện làm mãi dâm chuyên nghiệp lẫn bán chuyên nghiệp ở trong nước. Tuy nhiên ở Hà Nội tuồng như không có nạn trẻ em làm mãi dâm như ở các nước lân cận. Không có tài liệu đáng tin cậy về việc có bao nhiêu người liên hệ đến vấn đề mãi dâm ở Hà Nội, dưới hình thức chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp, hành nghề tự do và được ăn lương; tuy nhiên, con số này có vẻ đang gia tăng. Hiện nay Hà Nội vẫn chưa có những nhà thổ kiểu bán công khai như ở Thái Lan, nhưng nhiều hình thức khác đang phát triển đáng kể, và rõ ràng, để đáp ứng với nhu cầu thị trường. Phản ứng của công an lẫn cán bộ an ninh trước những khuynh hướng này tỏ ra yếu ớt, nếu không muốn nói là thờ ơ. Hệ quả rõ ràng do tham nhũng khiến công an làm ngơ như thường thấy ở khắp vùng Ðông Nam Á. Không mấy ngạc nhiên khi chính quyền lẫn đảng cộng sản buộc phải công nhận có sự lan tràn của các tệ nạn xã hội. Nhà nước phân vân chưa thể đo lường được thái độ của người dân Hà Nội, rằng phải chăng họ thà chấp nhận để cho những tệ nạn này tiếp tục nảy nở hơn là để cho chính quyền thắt lại các quyền tự do như trước đây. Có thể chính sự trù trừ này mà các quan chức ở Hà Nội lẫn khắp nước chưa nhiệt tình đối phó với nạn mãi dâm. Nói cho cùng, sinh hoạt xã hội và lối sống về đêm ở Hà Nội đang ngày càng giống với các thành phố ở khắp vùng Ðông Nam Á, đặc biệt là TP.HCM.

Công điện: Loại bảo mật: Không bảo mật "Sex and the City – Hanoi style” 26/11/2002, từ Raymond Burghardt, Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội.
Triệu Phong

NewVnNews - Sự khác biệt giữa thiên niên kỷ và năm 2000? Ngày 01 tháng 1 năm 2000 có phải là ngày bắt đầu của một thế kỷ mới?

Giải thích ngắn
Thiên niên kỷ thứ 3 bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 của năm 2001, Không phải là vào ngày 01 tháng 1 năm 2000 như nhiều người sử dụng lịch Gregorian tin. Năm 2000 bắt đầu ngày 1 tháng 1, năm 2000.

Giải thích dài 
Lý do tại sao thiên niên kỷ thứ 3, còn được gọi là thế kỷ 21, bắt đầu vào năm 2001 là bởi vì không có năm 0, tức là không có AD năm 0, cũng không có một năm 0 BC. Năm trước AD năm 1 được định nghĩa là năm 1 BC, do đó bỏ qua năm 0. (Xem bên dưới ). Do đó, tháng 1, năm 1, được định nghĩa là sự bắt đầu của thế kỷ thứ 1 và sự bắt đầu của thiên niên kỷ 1.

Bởi vì một thiên niên kỷ là 1000 năm, thiên niên kỷ đầu tiên kết thúc với năm 1000. Tiếp theo (2) Thiên niên kỷ bắt đầu 1000 năm sau khi người đầu tiên, đó là trong năm 1 + 1000 = 1001. Và một trong những thứ 3 bắt đầu 1000 năm chậm nhất là thứ 2: 1001 + 1000 = 2001. Xem bảng dưới đây để biết thêm thông tin.

Về lễ mừng thiên niên kỉ mới vào năm 2000? 
Chúng ta có thể ăn mừng cả hai năm, mặc dù có lẽ hầu hết mọi người sẽ nghĩ đầu năm 2000 là một lễ kỷ niệm lớn hơn đầu năm 2001. Vào đầu năm 2000, chúng ta mừng rằng đó là một số tròn đặc biệt, và vào lúc bắt đầu của năm 2001, chúng ta có thể ăn mừng một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới, và rằng 2000 năm đã trôi qua kể từ năm 1 bắt đầu.

Tại sao không có năm 0? 
Khi hệ thống hiện nay chúng ta sử dụng để đếm năm được phát minh bởi  học giả Dionysius Exiguus trong thế kỷ thứ 6, và sau đó được công nhận ở toàn châu Âu, chữ số La Mã được sử dụng, mà không có một số không. Do đó 1 BC là năm trước công nguyên 1, không có năm 0 (năm nối tiếp: năm 3 trước Công nguyên, năm 2 BC, 1 BC, năm 1 sau Công nguyên, AD 2, AD 3, vv ...)

Trường hợp ngoại lệ - Lịch Khác 
Có rất nhiều lịch khác trong việc sử dụng khác với Lịch Gregorian, ví dụ như người Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, mà bắt đầu đánh số năm cho kỷ nguyên ban đầu tại một thời điểm khác so với Julian / lịch Gregorian, và do đó họ không ăn mừng thiên niên kỷ thứ 3 cùng một lúc. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ vẫn sử dụng lịch Gregorian cho dân dụng.

Ngày bắt đầu của thế kỷ

Thế kỷ (thứ)Ngày đầu tiênNgày cuối
101 tháng 1  năm 1Ngày 31 tháng 12 năm 100
201 tháng 1 năm 101Ngày 31 tháng 12 năm 200
1601 tháng một năm 150131 tháng mười hai năm 1600
17Ngày 01 tháng 1 năm 160131 Tháng Mười Hai 1700
1801 tháng 1 năm 170131 tháng 12 năm 1800
1901 tháng 1 năm 180131 tháng 12 năm 1900
2001 tháng một năm 190131 tháng 12 năm 2000
21.01 tháng 1 năm 200131 Tháng 12 2100
2201 tháng 1 năm 210131 tháng 12 năm 2200

Ngày bắt đầu của thiên niên kỉ

Thiên niên kỷ (thứ)Ngày đầu tiênNgày cuối
101 tháng 1 131 Tháng Mười Hai 1000
201 tháng 1 năm 100131 tháng 12 năm 2000
301 tháng 1 năm 200131 Tháng Mười Hai 3000
4
...
01 tháng 1 300131 Tháng Mười Hai 4000


Theo timeanddate.com
NewVnNews

NewVnNews - “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đã từng nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc (LHQ) và đơn gia nhập đã được đem ra thảo luận vào đầu tháng 8, 1975. Một sự kiện chính trị ít người để ý.

(Ảnh: bản chụp báo New York Times tường thuật diễn biến tại Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 8, 1975)

Thật ra, “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” không tự động làm việc đó mà chỉ là chủ trương của đảng CSVN.

Với CSVN, việc đưa hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”.

Cả nước vẫn do một đảng CSVN (ngày đó còn gọi là đảng Lao Động) nắm quyền điều hành. Tất cả các bộ phận khác, kể cả cơ quan gọi là “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” cũng chỉ được lập ra để thi hành một chính sách có tính giai đoạn của Bộ Chính Trị đảng Lao Động Việt Nam tại Hà Nội.


Thời điểm đó, Mao Trạch Đông ủng hộ, mặc dù sự rạn nứt giữa CSVN và Trung Cộng đã sâu sắc Mao vẫn ủng hộ CSVN trong chủ trương hai nước CS Việt Nam cùng gia nhập LHQ.

Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô đang chế ngự trong bộ máy lãnh đạo CSVN, nhưng vẫn còn nuôi chút hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN qua những buổi tiếp xúc long trọng dành cho Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình cho thấy ý định “còn nước còn tát” của y.


Bắt được ý định đó của Mao, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Châu Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ.

Mao không chấp nhận “giải pháp trọn gói” này vì mất nhiều hơn được. Vào thời gian đó, sức khỏe Mao yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ.

Mao và lãnh đạo Trung Quốc khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.

Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Ảnh hưởng được gì từ “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” chưa thấy nhưng sẽ bị bao vây chặt hơn và đe dọa mạnh hơn hơn khi Nam Hàn trở thành hội viên chính thức của LHQ. Ngoài ra, Mao cũng lo Bắc Hàn sẽ giảm dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

Nhắc lại sự kiện lịch sử này để thấy dã tâm của Trung Quốc qua nhiều thế hệ lãnh đạo vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách.

Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập. Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu.

Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất.
Trần Trung Đạo
NewVnNews

NewVnNews - Thảm hoạ môi trường Minamata nằm phía tây đảo Kyushu, cực nam Nhật Bản, là một điển hình thế giới về nhiều phương diện. Minamata từ một địa danh trở thành tên gọi của một chứng bệnh do nhiễm độc thuỷ ngân từ chất thải hoá học xả vào nguồn nước.


Minamata là một thảm hoạ môi trường kéo dài hơn 30 năm , từ năm 1932 – 1968 , nhưng hệ quả bi đát của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay và là một trong bốn chứng bệnh lớn nhất tại Nhật do ô nhiễm chất thải hoá học gây ra.

Minamata cũng là một án lệ môi trường điển hình với nhiều vụ kiện kéo dài từ năm 1959 tới tận hôm nay.

Minamata cũng là một điển hình cho thấy vai trò của chính quyền khi chọn lựa giữa quyền lợi cộng đồng và quyền lợi của nhóm thiểu số. Ngay từ năm 1908, khi tập đoàn Chisso mở nhà máy ở Minamata nước thải đã xả thẳng xuống vịnh và vùng biển quanh ngôi làng 10.000 dân này. Thiệt hại cho ngành ngư nghiệp là không thể tránh khỏi và hợp tác xã ngư nghiệp Minamata đã hai lần đòi Chisso bồi thường trước khi căn bệnh nhiễm độc thuỷ ngân bùng phát .

Sau các thương lượng trực tiếp vào năm 1926, Chisso đồng ý trả cho hợp tác xã khoản “tiền thông cảm” là 1.500 yen - khoảng 704 USD theo tỷ giá đương thời . Dùng thuật ngữ “tiền thông cảm” là cách Chisso tránh né nhận trách nhiệm gây thiệt hại và tập đoàn này tìm cách ngăn ngừa những khoản bồi hoàn về sau bằng cách thêm vào thoả thuận với hợp tác xã một điều khoản là không bao giờ kiện nữa . Kiểu chối bỏ trách nhiệm và những điều kiện ràng buộc của Chisso cứ tái diễn suốt bao lần đàm phán với ngư dân Minamata trong khi chất thải độc hại vẫn không ngừng xả xuống biển.

Đến năm 1943, Chisso ký kết với ngư dân một thoả thuận khác chấp nhận thông cảm 152.500 yen cho các thiệt hại ngư nghiệp trong quá khứ và tương lai . Tuy nhiên, tính chất bất bình đẳng của thoả thuận này lộ rõ trong các điều khoản buộc ngư dân địa phương phải nhìn nhận tầm quan trọng của Chisso đối với sự thịnh vượng của Minamata và nhu cầu hợp tác để không gây phương hại cho các hoạt động của Chisso .

Năm 1956 là năm cư dân địa phương bắt đầu biết đến hội chứng bệnh lạ ở Minamata. Không còn là một ngôi làng nữa, Minamata giờ đây đã là thành phố của một công ty với 50.000 dân. Nhà máy Chisso tuyển dụng tới 60% lực lượng lao động của Minamata. Hàng loạt người dân lâu nay ăn cá nhiễm độc thuỷ ngân bỗng phát sinh những dấu hiệu kỳ lạ. Bệnh nhẹ thì á khẩu, đi đứng khó khăn, co giật. Những trường hợp cực độ có biểu hiện phát điên, tê liệt, hôn mê và chết sau vài tuần phát bệnh.

Đến lúc này thì lượng tôm cá đánh bắt ở Minamata đã sụt giảm chỉ còn không tới 10% so với trước. Chính quyền tỉnh Kumamoto cố gắng khống chế căn bệnh lạ lây lan bằng cách cấm bán hải sản đánh bắt từ vịnh Minamata nhưng không hề ban bố lịnh cấm đánh bắt. Ngư dân đánh bắt được cá nhưng không thể bán và không hề có chính sách hỗ trợ tài chính nào bồi hoàn cho họ.

Tháng 9 năm 1958, hợp tác xã ngư nghiệp Minamata kiến nghị chính quyền cấp tỉnh hãy cấm đánh bắt cá toàn diện để ngư dân được hưởng quyền bồi thường thích đáng theo luật Ngư nghiệp và bộ luật Vệ sinh thực phẩm đương thời của Nhật Bản. Chính quyền không hề có phản ứng gì khác hơn là khuyên ngư dân đừng ăn tôm cá do họ đánh bắt từ vịnh Minamata. Không còn nguồn thu nhập nào khác, nhiều ngư dân không còn lựa chọn nào ngoại trừ ăn những thứ mà họ đánh bắt được dưới biển.

Thực tế, suốt lịch sử thảm hoạ Minamata, việc đánh bắt cá ở Minamata chưa bao giờ bị cấm về mặt pháp lý. Bất kể lệnh cấm bán cá ô nhiễm, mối ngờ vực về tính an toàn của tôm cá khu vực Minamata vẫn lan tràn trong dân chúng địa phương và đến tháng 6 năm 1959 thì nhiều doanh nghiệp buôn bán hải sản phải khánh tận vì không ai mua hải sản nữa. Tuyệt vọng vì chính quyền làm ngơ, hợp tác xã buộc phải điều đình trực tiếp với Chisso.

Ngày 6 tháng 8 , 400 ngư dân hợp tác xã kéo tới nhà máy và gặp giám đốc Eiichi Nishida trong bầu không khí thù nghịch. Ngư dân đòi Chisso phải làm sạch vịnh Minamata, lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải và bồi thường 100 triệu yen , khoảng 278.000 USD . Đáp lại, giám đốc Nishida đề nghị một khoản “tiền thông cảm khẩn cấp” 500.000 yên cùng một lời hứa sẽ hội ý với tổng văn phòng tập đoàn Chisso ở Tokyo .

Sáu ngày sau, ngư dân lại kéo đến nhà máy tiếp tục đàm phán. Hai bên không đạt được thoả thuận nào ngoại trừ một chuyến khảo sát phối hợp về thực tế tình trạng ngư nghiệp ở Minamata để làm cơ sở đàm phán tiếp vào ngày 17 tháng 8. Sau chuyến khảo sát này, Chisso thừa nhận không còn khả năng đánh cá ở một số khu vực và đưa ra đề nghị cuối cùng 13 triệu yen - 36.100 USD .

Đề nghị bủn xỉn ấy khiến ngư dân phẫn nộ và nổi loạn. Lực lượng cảnh sát chống bạo loạn của thành phố phải ra tay can thiệp. Nishida và các nhân viên công ty thực tế trở thành con tin ngay trong nhà máy. Chỉ đến khi thị trưởng Todomu Nakamura đồng ý làm trung gian hoà giải giữa hai bên tranh chấp thì ngư dân mới rời khỏi khu vực Chisso.

Hội đồng hoà giải do thị trưởng Nakamura lập ra vào ngày 26 tháng 8 lại đưa ra phán quyết rất thiên vị Chisso. Theo đó, công ty này sẽ trả 20 triệu yen - 55.600 USD trực tiếp cho hợp tác xã và lập một ngân quỹ 15 triệu yen - 41.700 USD để phục hồi ngư nghiệp. Phán quyết này lại đi kèm với một tối hậu thư rằng nếu một trong hai bên bác bỏ đề nghị này thì hội đồng hoà giải sẽ chấm dứt ngay các hoạt động trung gian.

Ba ngày sau, phía hợp tác xã phản hồi : Nhằm kết thúc nỗi lo ngại của công dân, chúng tôi nuốt lệ chấp nhận . Minamata là căn bệnh gì ? Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau.


Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường. Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh. Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật.

Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.

Thủy ngân hữu cơ là gì ?
Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng .
Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế . Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.

Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata ?
Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata. Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

Công ty Chisso là công ty gì ?
Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật Bản . Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso . Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần 2 . Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào . Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt .

Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata ?
Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy. Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh. Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa .

Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì ?
Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng. Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata. Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .

Hiện nay công ty Chisso ra sao ?
Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ năm 1978 - 2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên . Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ.


Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa .

NewVnNews

NewVnNews - Để có sự hiện đại như ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế của mình, người Nhật cũng đã từng phải trả những giá đắt. Cần làm gì để không mắc lại sai lầm đó vừa có được kinh tế phát triển đó là lợi thế của những nước phát triển sau như Việt Nam.




Có lẽ không có người Nhật nào lại không biết đến cái tên Minamata, là tên của một thành phố xinh đẹp đầy thơ mộng tại Kyushu, giáp ranh giữa hai tỉnh Kagoshima và Kumamoto. Căn bệnh Minamata đã từng là điều kinh hoàng của biết bao người Nhật trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu 70, đúng vào thời kì phát triển kinh tế ‘kì diệu’ của Nhật bản. Ngày ngay người Nhật luôn nhắc nhở, giáo dục thế hệ sau này của mình rằng, sẽ là điều không thể tha thứ được nếu những căn bệnh như Minamata lại bị tái diễn trong tương lai.


Minamata là căn bệnh gì?

Minamata là căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata. Đây không phải là căn bệnh lây nhiễm, hoặc bị di truyền về sau. Lần đầu tiên căn bệnh này được phát hiện tại Minamata thuộc tỉnh Kumamoto và năm 1956, và năm 1968, chính phủ Nhật bản đã chính thức tuyên bố, căn bệnh này cho công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.

Khi methyl thủy ngân xâm nhâp vào cơ thể, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương. Các triệu chứng là chân và tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, mệt mỏi, ù tai, mắt mờ, điếc, nói lắp bắp…các hành động của cơ thể trở nên yếu ớt. Những bệnh nhân đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh.

Có những bệnh nhân bị mắc bệnh Minamata kinh niên, như là đau đầu, mệt mỏi thường xuyên, mất khả năng vị giác và khứu giác, hay quên…Những điều này biểu lộ không rõ nét nhưng làm cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn. Nhiều người còn bị bệnh Minamata bẩm sinh khi mẹ của họ đã ăn cá bị ô nhiễm methyl thủy ngân khi đang mang thai họ, khiến cho họ sinh ra đã là người tàn tật. Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu. Ngoài những tổn hại về mặt cơ thể con người, còn có những tổn hại về mặt xã hội nữa, chắc hạn có những sự phân biệt đối xử với những người mắc căn bệnh này.

Thủy ngân hữu cơ là gì?

Con người đã có một lịch sử lâu dài với thủy ngân. Ở Nhật bản, thủy ngân được sử dụng cùng với vàng để dát lên bức tượng Phật khổng lồ ở Nara, trong thời Edo, thủy ngân được sử dụng để chế thuốc và bột bôi mặt. Tại Nhật, những nơi có tên là Niu chỉ đây là những khu vực mà thủy ngân đã được sản xuất và sử dụng.

Thủy ngân được phân ra làm hai loại: Thủy ngân hữu cơ và vô cơ. Thủy ngân kim loại, là loại thủy ngân vô cơ, được dùng trong nhiều sản phẩm quen thuộc như đèn huỳnh quang, ác qui, nhiệt kế.

Methyl thủy ngân gây nên căn bệnh Minamata là một loại của thủy ngân hữu cơ. Đây lào một loại bột trắng và có mùi giống như mùi lưu huỳnh bốc lên từ các suối nước nóng. Methyl thủy ngân dễ dàng được dạ dày và ruột hấp thụ và chuyển theo đường máu tới não, gan, thận và thậm chí nhau thai. Methyl thủy ngân cực kì độc và gây nên những hậu quả khôn lường.

Có bao nhiêu người đã mắc bệnh Minamata?

Cho đến ngày 30/4/1997, số người trong hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima chứng nhận là đã mắc bệnh Minamata lên tới 17 ngàn người. Trong đó có 2.265 (trong đó 1.484 người đã qua đời cho đến 31/1/2003) đã được chính phủ công nhận. 10.625 người sau khi được chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được Chính phủ bồi thường. Như vậy, theo Chính phủ Nhật thì có tổng cộng 12.890 người đã mắc bệnh cho đến nay. Tuy nhiên có một số đã chết trước khi căn bệnh này được chính thức khám phá, và nhiều người chưa kịp nộp đơn xin chứng nhận thì đã chết. Nhiều người thì không nộp đơn vì nhiều lý do, chính vì vậy mà không thể có được một số liệu chính xác về những bệnh nhân Minamata.

Căn bệnh kiểu Minamata đã không chỉ xảy ra ở riêng vùng Minamata. Năm 1965 bệnh Minamata đã bùng phát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata, do công ty Showa Denko thải thủy ngân xuống. Những căn bệnh tương tự do bị nhiễm độc thủy ngân cũng đã xảy ra ở Trung Quốc và Canada. Trong những năm gần đây, sông và hồ vùng Amazon và Tanzania bị nhiễm thủy ngân cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

Công ty Chisso là công ty gì?

Chisso đầu tiên là một công ty nhà máy thủy điện vào thời Meiji (1908). Sau đó, công ty này xây dựng một nhà máy sản xuất các bua tại Minamata. Sau đó công ty này có một thời gian dài sản xuất phân hóa học, và là một trong những công ty hóa chất hàng đầu của Nhật bản.

Khi công ty Chisso phát triển quá trình sản xuất của mình tại Minamata và Minamata đã trở thành một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu ở tỉnh Kumamoto, nhưng quá trình ô nhiễm do công ty Chisso gây nên thì ngày càng tăng. Một giám đốc của công ty Chisso đã từng là Thị trưởng của thành phố Minamata. Công ty Chisso càng có ảnh hưởng tới khu vực và người dân càng bị phụ thuộc vào sự phát triển của Chisso.

Ngoài các loại phân hóa học, Chisso còn sản xuất axit acetic, vinyl chloride và các loại chất dẻo. Chisso đã là một trong những công ty góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật bản sau chiến tranh thế giới lần II.

Từ thời Taisho (1912-1926), nước biển bị ô nhiễm do nước thải của Chisso đổ ra đã gây nên một số vấn đề. Tuy nhiên, từ năm 1932-1968, công ty Chisso tiếp tục sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Tất nhiên trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân đã được sinh ra và cứ được đổ thẳng xuống biển mà không qua bất kì một sự xử lý nào.

Thậm chí sau khi công ty Chisso biết rõ chính những nước thải của công ty họ gây nên căn bệnh Minamata, nhưng công ty vẫn không ngừng quá trình sản xuất của mình. Trong lần xét xử đầu tiên về căn bệnh Minamata, thái độ thờ ơ của Chisso đã bị chỉ trích kịch liệt.

Hiện nay công ty Chisso ra sao?

Công ty Chisso có trụ sở ở Tokyo và có hai nhà máy khác ở Chiba và Okkayama, ngoài nhà máy ở Minamata. Các sản phẩm chính của Chiso là pha lê lỏng, các chất bảo quản, các chất chống sấy khô, phân hóa học, nhựa thông nhân tạo, và một số sản phẩm khác nữa. Nhà máy ở Minamata có 554 người vào tháng 10/2002 và Chisso vẫn là một công ty quan trọng ở Minamata. Chisso đang có bổn phận phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây nên căn bệnh Minamata. Trong những năm 1975 và về sau này, việc quản lý của Chisso gặp khó khăn chính vì vậy mà tỉnh Kumamoto cũng đã phải giúp đỡ công ty Chisso bồi thường thiệt hại từ vốn cho vay của tỉnh trong giai đoạn từ 1978-2000. Tổng cộng Chisso phải bồi thường số tiền là 260 tỉ yên, chính vì vậy Chính phủ Nhật cũng phải ra tay giúp Chisso trả dần số tiền trên từ tháng 2/2002 cho đến khi tự Chisso có thể trả được số tiền nợ trên.

Chisso vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí tổn điều trị cho bệnh nhân Minamata và những thiệt hại cho đời sống của họ. Một điều quan trọng để chúng ta nhận biết ở đây là những sai lầm như Chisso đã mắc phải ở Minamata sẽ không thể được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.

Điều gì đã xảy ra với vịnh Minamata?

Sự ô nhiễm đã làm nồng độ thủy ngân có trong nước biển của vịnh Minamata vượt quá 25 ppm. Lòng vịnh Minamata đã được nạo vét suốt 14 năm và tiêu phí tới 48.5 tỉ yên, những chi phí này do tỉnh Kumamoto đảm nhiệm. Sau khi được cải tạo, chất lượng nước trong vịnh Minamata đã trở thành một trong những nơi đứng đầu trong tỉnh Kumamoto về độ trong và độ sạch, vì vậy mọi người ngày nay có thể bơi lội hoặc chơi các môn thể thao dưới nước một cách an toàn ở đó. Nhằm để ngăn chặn những con cá đã bị nhiễm độc, và bảo vệ người dân ở trong tỉnh, tỉnh Kumamoto đã thả lưới ở cửa ra vào vịnh Minamata vào năm 1974 và vận động việc đánh cá nằm trong vịnh. Công ty Chisso đã mua lại số cá này và đem đi tiêu hủy.

Từ khi Chisso ngừng việc sản xuất Acetaldehyde, nồng độ thủy ngân trong cá và sò trong vịnh Minamata càng ngày càng giảm xuống. Tháng 10/1994, tỉnh Kumamoto đã khẳng định lượng thủy ngân năm trong các loài cá tại vịnh Minamata đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn quốc gia là 0,4 ppm. Chính vì vậy vào tháng 6/1997, tỉnh Kumamoto đã tuyên bố Minamata trở lại an toàn và toàn bộ những tấm lưới trên được dỡ bỏ. Ngày nay, toàn bộ cá ở trong vịnh đều đảm bảo an toàn giống như những loài cá ở ngoài vịnh.

Tuy những tấm lưới trên đã được dỡ bỏ, nhưng những cuộc điều tra về nồng độ thủy ngân trong các loài cá và sò trong vịnh Minamata đều được tiến hành mỗi năm 2 lần và sẽ kéo dài trong suốt 3 năm tới nữa. Các số liệu về Minamata là bài học rút ra cho không chỉ người Nhật và còn cho nhiều người dân trên thế giới nữa về việc môi trường bị tàn phá và sức khỏe con người bị ảnh hưởng trên diện rộng. Chính vì vậy mà căn bệnh Minamata cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.

Những bệnh nhân Minamata được bồi thường như thế nào?

Các bệnh nhân và công ty Chisso đã cùng đi đến một kết luận cuối cùng vào tháng 6/1973, dựa trên quyết định của tòa án phán quyết về căn bệnh Minamata vào tháng 3/1973. Theo trên, những người được cấp chứng nhận là bệnh nhân Minamata đã được nhận một khoản tiền bồi thường từ 16-18 triệu yên. Ngoài ra Chisso còn phải trả tiền trợ cấp hang năm, chi phí thuốc men, tiền chăm sóc, tiền mai tang, tiền trị liệu suối nước nóng, châm cứu…. Ngoài ra công ty này còn phải trả tiền giúp đỡ, quà tặng an ủi, trị liệu massage, chi phí đi và về của bệnh nhân tới bệnh viện….

Ngoài ra, với những người tuy không nộp đơn để xin chứng nhận trở thành bệnh nhân Minamata, nhưng họ rõ ràng đã phải trải qua những giai đoạn bất hạnh khi bị mất các cảm giác, suy nhược cơ thể, đã ăn một lượng lớn cá và sò…được hai tỉnh Kumamoto và Kagoshima trả tiền viện phí trong những danh mục mà bảo hiểm y tế không trả cho, và những chi phí y tế khác (Khoảng 17,200-23,500 yên/tháng) từ tháng 11/2000, dựa theo Dự án tổng hợp giải quyết bệnh Minamata.

Dựa trên Chương trình trợ giúp của chính phủ, cho những người, mặc dầu họ còn sống hay đã chết, là những người đã bị ảnh hưởng sức khỏe từ Methyl thủy ngân (trừ những người được chứng nhận là bệnh nhân Minamata) đã đồng ý với Chisso rằng là họ sẽ không đòi them một khoản bồi thường nào nữa từ năm 1996, sau khi nhận một khoản tiền bồi thường trọn gói là 2,6 triệu yên/người.

Những bệnh nhân Minamata đã yêu cầu những gì?

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi căn bệnh Minamata bùng phát. Với các bệnh nhân Minamata, 40 năm qua là quãng thời gian của sự khó khăn và đấu tranh. Trong những phiên tòa và trong những cuộc thương lượng, điều mà các bệnh nhân yêu cầu với chính quyền và công ty Chisso là sự tạ lỗi chân thành từ đáy long của họ vì họ đã gây ra căn bệnh Minamata và thờ ơ trong việc giúp đỡ các bệnh nhân. Họ yêu cầu điều kiện sức khỏe của các bệnh nhân phải được quan tâm và hỗ trợ nhanh chóng.

Chưa có giải pháp nào chữa hoàn toàn được căn bệnh Minamata. Phần lớn các bệnh nhân hang ngày phải đến bệnh viện để chữa trị và phục hồi. Hiện nay khi các bệnh nhân trở nên già hơn, số người phải nằm tại viên hoặc cần sự trợ giúp tại gia đình cũng tăng lên. Trong xã hội đang già đi của Nhật bản, những bệnh nhân này muốn được sống yên ổn cùng mọi người trong xã hội mà không phải bị lo lắng gì, là những mối quan tâm của các bệnh nhân tại Minamata.

Những bệnh nhân mà có thể gi chuyển được, vẫn cố gắng làm việc. Mặc dù công việc nhà nông hoặc đánh bắt cá rất nặng nhọc, nhưng một số bệnh nhân vẫn có thể hỗ trợ công việc này. Một số bệnh nhân thì làm việc cho các công ty, và họ phải học cách sống cùng với căn bệnh này. Tuy nhiên vẫn có một số định kiến và hiểu lầm về căn bệnh Minamata này vẫn còn tồn tại. Nhiều người đã phải dấu họ là bệnh nhân Minamata, thậm chí ngay với cả người than trong gia đình hoặc họ hang. Một số người thì cống hiến cho các hoạt động như kể về giai đoạn trải qua căn bệnh của mình và những bài học cho các thế hệ trong tương lai, hy vọng rằng căn bệnh Minamata sẽ không được phép xảy ra ở bất kì nơi nào nữa.

Moyai Naoshi nghĩa là gì?

Moyai có nghĩa là buộc những chiếc thuyền lại cùng nhau, hoặc làm một điều gì đó cùng với nhau. Chúng tôi đặt tên một dự án cộng đồng của chúng tôi là ‘Moyai Naoshi’, để nhấn mạnh các công việc đối phó với căn bệnh Minamata, để hiểu và làm việc với con người ở đây khi sức khỏe bị tổn hại và trong điều kiện môi trường bị tàn phá.

Đầu tiên khi căn bệnh Minamata mới bùng phát, các bệnh nhân Minamata gặp rất nhiều vấn đề để hòa hợp với các hang xóm của mình, vì họ nghĩ rằng đây là một căn bệnh lây nhiễm. Thậm chí sau khi Chisso được khẳng định là nguyên nhân gây ra bệnh Minamata do methyl thủy ngân thải ra biển, công việc này cũng bị những người phụ thuộc vào công ty Chisso thờ ơ. Vì những phiên tòa và món tiền bồi thường khổng lồ đã đe dọa đến sự tồn tại của Chisso.

Những bệnh nhân còn bị sự phân biện đối xử, hoặc phỉ báng từ một số người, khi họ nhận tiền bồi thường. Vì trong những người nộp đơn xin chứng nhận là bệnh nhân Minamata, có người cho rằng họ đã giả là bị bệnh. Sau khi Chisso bị cáo buộc là thủ phạm gây ra căn bệnh và phải bồi thường, đã có nhiều căng thẳng và xung đột xảy ra từ những nhóm người có các quan điểm khác nhau.

Mặc dù có những khó khăn qua nững sự hiểu lầm như vậy, mọi người đã nhận thức ra rằng sự thù địch không mang lại điều gì cả. Chính quyền, người dân ở đây, và những bệnh nhân đang có những hoạt động nhằm tái thiết lại Minamata qua các cuộc nói chuyện và các hoạt động.

Lời kết

Minamata là căn bệnh gây ra do con người ăn cá và sò từ vùng biển bị ô nhiễm nặng nề bởi công ty Chisso thải methyl thủy ngân ra biển. Cùng thời gian đó, sự xung đột và thù địch giữa người với người trong cộng đồng cũng bung phát.

Mọi công dân của Minamata nhận ra rằng, nước và thức ăn là rất cần thiết cho cuộc sống, và là vô giá. Ngành xây dựng và công nghiệp không thể được cho phép tàn phá môi trường.

Sự sản xuất hàng loạt, tiêu thụ hàng loạt làm cho cuộc sống của chúng ta thuận tiện hơn, thịnh vượng hơn, nhưng cũng sinh ra hàng loạt rác thải. Tuy nhiên môi trường và sức khỏe của chúng ta phải chịu đựng với những cột khói thải khổng lồ, phân hóa học trong nông nghiệp, những hóa chất bảo quản và hàng loạt những hóa chất độc hại khác. Chúng ta không thể chỉ nghĩ đến cuộc sống vật chất giàu có đơn thuần của chúng ta mà không tham khảo đến mối liên quan với các nước khác. Bệnh Minamata cho chúng ta thấy rằng con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân.

Bệnh Minamata còn cho chúng ta thấy rằng, để cùng tồn tại với tự nhiên, dựa trên quan điểm chúng ta phải sống đền đáp lại thiên nhiên, nghĩ về mối quan hệ với mọi người, sông hồ, biển, về những loại thức ăn an toàn, giảm bớt rác thải ở nhà và rác thải công nghiệp, phải phát triển kĩ thuật tái chế, và giải quyết các vấn đề của địa cầu

NewVnNews

Hơn 6 thập niên đã trôi qua nhưng hậu quả của thảm họa nhiễm độc thủy ngân do Tập đoàn hóa chất Chisso gây ra vẫn hằn sâu lên thành phố cảng nhỏ bé Minamata, tây nam Nhật Bản.


Tháng 10.2013, lễ tưởng niệm khoảng 2.000 nạn nhân đã tử vong trong vụ nhiễm độc thủy ngân nghiêm trọng nhất lịch sử nhân loại được tổ chức tại Minamata với sự tham dự của đại diện 140 quốc gia. Đó là chưa kể hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn người bị ảnh hưởng sức khỏe ở nhiều cấp độ khác nhau từ vụ bê bối về môi trường này. Đây cũng được xem là trường hợp đầu tiên của hàng loạt vụ ô nhiễm công nghiệp nghiêm trọng trong thế kỷ 20.

Thập niên “biển trắng”

Công ước Minamata
Cuối năm 2013, 140 nước, trong đó có Việt Nam đã ký kết Công ước Minamata của Liên Hiệp Quốc về hạn chế lượng thủy ngân thải ra môi trường, theo AFP. Các nước tham gia công ước có 15 năm để loại bỏ thủy ngân trong các hoạt động khai thác khoáng sản. Ngoài ra, từ năm 2020, những sản phẩm dùng kim loại này, như nhiệt kế, sẽ không còn được sản xuất.
Theo Đài truyền hình RTS, năm 1907, một nhà máy hóa dầu của Chisso được mở ở Minamata. Từ năm 1932, nhà máy này bắt đầu xả nước thải của quá trình sản xuất nhựa tổng hợp, có chứa nhiều kim loại nặng, đặc biệt là thủy ngân, ra biển. Năm 1949, dân địa phương đã bắt gặp những chú mèo bị co giật, còn gọi là “mèo nhảy múa”, hoặc kỳ lạ hơn là lao thẳng xuống biển chết. Tuy nhiên, ban đầu, chưa ai quy trách nhiệm cho Chisso, vốn được xem là một công ty kiểu mẫu của Nhật Bản vì trong giai đoạn xảy ra Thế chiến 2 vẫn duy trì được hoạt động để phát triển mạnh mẽ sau khi chiến tranh kết thúc.
Tờ Le Monde dẫn lời một cụ ông sống ở phía nam Minamata kể lại: “Thập niên 1950 được chúng tôi gọi là “biển trắng”: cả đàn cá phơi bụng lên mặt biển. Chúng tôi chỉ cần dùng tay cũng vớt được đầy cá. Chúng có vẻ tươi nên mọi người mang về ăn bình thường. Một phần vì khi ấy, ai cũng khốn khó”.
Hải sản là thực phẩm chính của người dân ở thành phố này. Và sau những cái chết kỳ quái của mèo và chim biển, đến lượt những người có sức khỏe dễ bị ảnh hưởng nhất - trẻ em, thai phụ, người cao tuổi - ở Minamata phát các triệu chứng lạ. Năm 1953, những ca đầu tiên chính thức được ghi nhận và 3 năm sau thì được công nhận là “bệnh lạ”. Chính quyền địa phương nghi ngờ đây là một dịch bệnh nên bệnh nhân bị cô lập. Những người tử vong được chôn cất âm thầm vào đêm khuya để tránh gây thêm lời đồn.
Năm 1959, sau khi khám nghiệm những con mèo chết kỳ quái, một nhóm khoa học gia kết luận có sự liên quan giữa “bệnh lạ” ở Minamata với nước thải chứa thủy ngân từ nhà máy của Chisso. Tuy nhiên, nghiên cứu đã bị tập đoàn này cùng chính quyền địa phương bác bỏ, nhóm khoa học gia bị giải tán. Chisso vẫn tiếp tục xả thải ra vùng biển quanh thành phố cảng Minamata cho đến năm 1968 mới bị buộc phải ngưng vì Bộ Y tế Nhật Bản xác nhận nguyên nhân gây “bệnh lạ” chính là thủy ngân.
Ước tính, tổng cộng nhà máy hóa chất của tập đoàn này đã xả ra biển 400 tấn thủy ngân, trong đó, riêng giai đoạn từ 1956 - 1968 là 150 tấn.

Gian nan tìm công lý
Sau khi được công nhận chính thức, “bệnh lạ” đã có tên là “bệnh Minamata”: bệnh nhân bị nhiễm độc thủy ngân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh (mất xúc giác, thị giác giảm, bị run tay, co giật, bị liệt…), nguy cơ bị ung thư cao. Thai nhi tại Minamata bị nhiễm thủy ngân từ mẹ khi sinh ra có khả năng rất lớn bị thiểu năng trí tuệ và nhiều khuyết tật nặng nề khác.
Theo Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), thảm họa sinh thái ở Minamata là một trường hợp điển hình của ô nhiễm kim loại, vốn là một dạng ô nhiễm cực kỳ khó xử lý với hậu quả kéo dài vì kim loại không tự tiêu hủy được. Khi con người ăn hải sản nhiễm thủy ngân, kim loại này cũng tích tụ lại và dần tàn phá hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên.
Báo cáo của CNRS cho biết vào thập niên 1950, 1960, một số mẫu cá bắt được ở vùng biển ven Minamata có lượng thủy ngân cao gấp 500.000 lần so với thông thường. Tại khu vực này, một số loài động vật thân mềm (nghêu, ốc), cũng có lượng thủy ngân cao hơn 10.000 lần.
Tác động của thủy ngân đã rõ ràng nhưng do ảnh hưởng của Chisso, phải mất rất nhiều thời gian, các nạn nhân của thảm họa sinh thái tại Minamata mới được công nhận và bồi thường. Năm 1973, tức 20 năm sau khi những ca bệnh đầu tiên được ghi nhận, tập đoàn này bị tòa xử phải bồi thường từ 16 - 18 triệu yen cho các nạn nhân. Nhưng chỉ 2.665 người được công nhận để được bồi thường còn 16.000 hồ sơ đã bị bác.
Năm 1996, thêm 12.371 nạn nhân được nhận một khoản bồi thường 2,6 triệu yen mỗi người để rút đơn kiện Chisso. Năm 2004, Tòa án tối cao Nhật Bản ra phán quyết thừa nhận chính phủ nước này và chính quyền địa phương đã không đưa ra biện pháp xử lý kịp thời để ngăn chặn thảm họa ở Minamata.
Năm 2009, một dự luật được thông qua quy định mức bồi thường cho khoảng 40.000 người bị bệnh Minamata vẫn chưa được chính thức công nhận là nạn nhân của Chisso. Rất nhiều nạn nhân vì bệnh tình trầm trọng nên đã qua đời trước khi được xử thắng kiện
NewVnNews

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget