Halloween Costume ideas 2015
Articles by "Kinh Tế"
Afamily An ninh - trật tự An Ninh Thủ Đô Ảnh Đẹp Ăn Ngon Âm Nhạc Ẩm Thực Báo Chí Báo Công An Nhân Dân Báo Dân Sinh Báo Đất Việt Báo Giao Thông Báo Hà Tĩnh Báo Mới Báo Nông Nghiệp Báo Tiền Phong Báo Tin Tức Báo Tuổi Trẻ BBC Bí Quyết Bí Quyết Khỏe Và Đẹp Biển Chết Biển Đông Biển Kỳ Anh Biển Vũng Áng Bizlive Bói Vui bóng đá Bùi Mạnh Hùng Cá Chết Cá Gỗ Cafebiz CafeF Cafekubua Cảm Xúc Cảm Xúc Kỳ Anh Cao Quang Vinh Chăm Sóc Da Châu Á Chia Sẻ Chiến Tranh Chính Trị Chợ Kỳ Anh Công An Kỳ Anh Cộng Đồng Mạng Công Nghệ Cù Lú Cung Hoàng Đạo Cuộc Sống Cư Dân Mạng danviet.vn Dạy Con Dân Ca Nghệ Tĩnh Dân ca Ví giặm Dân Trí Diễn Đàn Diễn Đàn - Chia Sẻ Dinh Dưỡng Du Học Du Lịch Đại Kỷ Nguyên Đàn Ồng Đảo Sơn Dương Đặc Sản Kỳ Anh Đèo Ngang Đẹp Đẹp + Đẹp Mãi Kỳ Anh Địa Danh Kỳ Anh Điện Ảnh Đọc & Suy Ngẫm Đông Yên Đời Sống Eva Facebook Formosa Genk Gia Đình Giadinh.net Giải Trí Giáo Dục Giáo dục Kỳ Anh Giáo Dục Việt Nam Giao Thông Giới Tính Giới Trẻ Góc Chuyên Gia Góc Con Gái Góc Của Nàng Góc Nhìn Gương mặt Kỳ Anh Gương Mặt Trẻ Hà Chương Hà Tĩnh Hạnh Phúc Hay Hẹn Hò Hoa Hậu Hoành Sơn How To Hội Đồng Hương Kỳ Anh Hôn Nhân HUMANS OF KỲ ANH Huyện Kỳ Anh Infonet iSenpai Japan Times Kênh 14 Khám Phá Khoa Học Khoẻ Khỏe+ Khu KT Vũng Áng Kĩ Năng Mềm Kiến Thức Kinh Doanh Kinh Tế Kỳ Bắc Kỳ Giang Kỳ Hà Kỳ Hoa Kỳ Hợp Kỳ Khang Kỳ Lạc Kỳ Lâm Kỳ Lợi Kỳ Nam Kỳ Phong Kỳ Phương Kỳ Sơn ký sự pháp đình Kỳ Tân Kỳ Thư Kỳ Thượng Kỳ Trinh Kỳ Văn Kỳ Xuân Làm Đẹp Làm Giàu Làng Nghề Lao Động Lê Quyết Diễn Lịch sử Mai Phương Mạng Xã Hội Mầm Nhỏ Mẹ - Con Menzine Mẹo Chữa Bệnh Món Ăn & Sức Khỏe Môi Trường Mới Lạ Mùa Đông Mực nháy Nghệ Sĩ Nghiên Cứu Lịch Sử Ngô Sỹ Ngọc Ngôi sao Nguyễn Ngọc Anh Nguyễn Tiến Chưởng Nguyễn Xuân Lộc Ngư Dân Kỳ Anh Người Đô Thị Người Đưa Tin Người Kỳ Anh Người Lao Động Nhà Quản Lý Nhạc Biển Chết Nhạc Kỳ Anh Nhật Bản Nhịp Sống Trẻ Nikkei Asian Review Ô Tô Phan Đình Hoàng Quảng Phan Quang Phóng Pháp Luật Pháp Luật TP HCM Phim phong cách Phố Voi Phụ Nữ Phụ Nữ & Gia Đình Phụ Nữ Sức Khỏe Phường Kỳ Thịnh Qua Đèo Ngang Quan Hệ Quốc Tế Quang Tiến Quân Sự Quê Choa Xấu Xí Quốc Tế Rong Rêu (Võ Xuân Tùng) Rôn Vinh Sách Hay sáng tạo saostar Sex SGGP Online Soha Sống Sống Khỏe Sông Quyền Suy Ngẫm Sức Khỏe Sức Khỏe - Y Tế Sức Khỏe & Đời Sống Tạp chí Phái Đẹp ELLE Tạp Chí Sức Khỏe Tâm Sự Tết Quê Thành Công Thanh Niên Thanh Niên Online Theleader Thế Giới Thể Thao Thể Thao Văn Hóa Thị xã Kỳ Anh Thông Tấn Xã Việt Nam Thông Tin Từ Thiện Thơ Biển Chết Thơ Quê Hương Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Thời Sự Thời Trang Thương Về Miền Trung Tia Sáng Tiến Điển Tiền Phong Tiếng Nghệ Tĩnh Tín ngưỡng Tin Tức Tin Tức Kỳ Anh Tinh Hoa Tình Yêu Tóc Tôn Giáo Trần Hồng Quân Trần Khánh Cẩm Trần Xuân Tiến Tri Thức Trẻ Trí Thức Trẻ Tri Thức Việt Nam Trung Quốc Truyện - Bút Ký ... Trường Cấp III Kỳ Anh Trường THPT Nguyễn Huệ Tuổi Trẻ Tuổi Trẻ Online Tuyển Sinh Tư Liệu Tư Liệu - Tra Cứu Ung Thư Văn Hóa Văn Hoá Truyền Thống Video Video - Ảnh Video Sức Khỏe Vietfuture Vietnamfinance Vietnamnet VietQ VnEconomy VnExpress Võ Tú Võ Xuân Hùng VOV Vov.vn VTC News VTV Xã Hội XKLĐ Y Học Cổ Truyền Y học thường thức Y Tế Yêu Zing

NewVnNews - Khắp nơi đều đang hừng hực khí thế trước trận đấu lịch sử của bóng đá nước nhà, khi U23 Việt Nam lọt chung kết giải U23 châu Á. Đây cũng là dịp “hốt bạc” cho dân buôn cờ, áo cổ vũ bóng đá, nhiều cửa hàng đạt doanh thu tới 70-80 triệu đồng/ngày.
Bán áo cổ vũ U23 Việt Nam 'thu đậm' 80 triệu đồng/ngày



Một ngày trước khi trận chung kết giải U23 châu Á diễn ra, tại một cửa hàng bán áo cờ đỏ cổ vũ bóng đá trên đường Cách Mạng Tháng Tám (quận Tân Bình, Tp.HCM), rất đông khách hàng vào mua đồ. Trên tay nhiều người là những chiếc áo cộc tay màu đỏ và ngôi sao vàng phía trước. Áo được bán đồng giá 75.000 đồng/chiếc dành cho mọi loại size.

Chia sẻ trên Dân trí, đại diện cửa hàng cho biết, những ngày gần đây, toàn bộ nhân viên đã phải làm việc cật lực để phục vụ người dân mua áo cổ vũ bóng đá. Mỗi ngày, cửa hàng bán ra trên dưới 1.000 chiếc áo cờ đỏ, doanh thu đạt mức 70-80 triệu đồng/ngày.

Ngoài ra, vị đại diện cửa hàng này còn cho biết thêm không chỉ lượng khách đến mua trực tiếp tại cửa hàng tăng vọt mà khách đặt mua qua mạng cũng rất nhiều. Có những thời điểm cửa hàng rơi vào tình cảnh “cháy hàng”, không có áo giao cho khách.

Theo ghi nhận, giá áo cổ vũ bóng đá tại các cửa hàng trên đường Nguyễn Trãi (quận 5), Trường Chinh (quận Tân Bình), Quang Trung (quận Gò Vấp dao động từ 70.000–90.000 đồng/áo, tùy vào chất liệu. Trong khoảng 5 ngày gần đây, nhiều cửa hàng “thu đậm” từ 50-80 triệu đồng/ngày.
Nhiều cửa hàng tại Tp.HCM thu 50-80 triệu đồng/ngày nhờ việc bán áo. (Ảnh: Dân trí).
Đại diện các cửa hàng tại Tp.HCM nhận định, đây là đợt bán áo “sướng tay” nhất của họ kể từ khi Việt Nam vô địch AFF Cup năm 2008. Điều đáng chú ý là, không khí vui mừng tại thời điểm vô địch AFF không kéo dài bằng lần này. Nhiều cửa hàng thời trang đang huy động tất cả nguồn lực để phục vụ cho người dân mua đồ cổ vũ cho trận chung kết lịch sử diễn ra vào ngày 27/1.



Trong khi đó, tại Hà Nội, không khí cổ vũ cho U23 Việt Nam cũng sôi động không kém. Theo trang Tri thức trực tuyến, các cửa hàng trên phố Hàng Bông, Hàng Mã… tấp nập kẻ mua người bán cờ, băng rôn, kèn… để cổ vũ cho đội tuyển U23 trong trận chung kết sắp tới. Do không gian cửa hàng trên phố Hàng Bông khá chật chội, nhiều xe máy để tràn xuống cả lòng đường, người mua phải xếp hàng đợi đến lượt mình.
Chị Hạnh (Cát Linh, Hà Nội) cho biết chị tranh thủ đi mua cho cả nhà áo cổ vũ để cùng xem trận chung kết. Chị phải trả 80.000 đồng cho một chiếc áo người lớn và 50.000 đồng cho áo trẻ em.

Trước tình trạng giá cả các đồ cổ vũ bóng đá từ áo, cờ, kèn… đều tăng gấp 2-3 lần so với ngày thường, chị Ngân (Hoàn Kiếm, Hà Nội) vẫn vui vẻ nói: “Cả đời có mấy lần Việt Nam vào đến chung kết nên cứ vui vẻ mua thôi. Sáng mai gia đình tôi bay sang Trung Quốc để xem các cầu thủ thi đấu”.

Không chỉ các cửa hàng cửa hiệu mà trên các trang mạng xã hội, diễn đàn đều tràn ngập các bài viết bán áo. Giá của cờ, áo, băng rôn “nhảy nhót” mỗi nơi một kiểu. Áo cotton cộc tay màu đỏ có sao vàng giá từ 20-80 nghìn đồng/chiếc, băng rôn cuốn đầu 3-10 nghìn đồng, cờ to có giá 60-80 nghìn đồng, dù một số đầu mối giao hàng sỉ cho biết giá áo chỉ 15 nghìn đồng, cờ to cũng chỉ 15-20 nghìn đồng. Vậy nhưng nhiều nơi thông báo không còn hàng dù ngày mai đội U23 Việt Nam mới đá chung kết.

Nguyễn Trang

NewVnNews - Ôm cục nợ hơn 100.000 tỷ đồng, cứ mỗi ngày mở mắt ra, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) phải trả lãi 12 tỷ đồng nên lợi nhuận lao dốc.

Báo cáo của Thanh tra Bộ Tài chính tiết lộ, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) nợ hơn 100.000 tỷ đồng. Như vậy, cứ mỗi ngày, TKV phải trả 12 tỷ đồng tiền lãi ngân hàng.

Không chỉ vậy, đoàn thanh tra của Bộ Tài chính còn xác nhận công ty mẹ tập đoàn chưa mở tài khoản riêng tại các ngân hàng thương mại để theo dõi, hạch toán các quỹ tập trung nói trên theo yêu cầu của Bộ Tài chính.

“TKV có trách nhiệm mở tài khoản riêng tại ngân hàng thương mại để theo dõi, hạch toán rõ ràng, đầy đủ thu chi, kết dư các quỹ tập trung, các khoản lãi phát sinh từ việc gửi tiền từ tài khoản này được hạch toán tăng nguồn các quỹ tương ứng”, Bộ Tài chính yêu cầu.

Trả lãi 12 tỷ đồng mỗi ngày

Cụ thể, theo Thanh tra Bộ Tài chính, tại thời điểm cuối năm 2015, tổng nợ phải trả của TKV lên tới 100.343 tỷ đồng. Trong đó, nợ ngắn hạn là 37.609 tỷ đồng, nợ dài hạn lên tới 62.734 tỷ đồng.
Số liệu này cũng khớp với số liệu tài chính mà TKV đã công bố. Theo bảng cân đối kế toán hợp nhất 2015 của TKV, tổng nợ phải trả của TKV tại ngày 31/12/2015 tăng 3.898 tỷ đồng, tương ứng 4,2% so với số đầu năm.

Năm 2015, TKV tập trung cho các khoản vay dài hạn. Tổng nợ dài hạn tăng từ con số 55.532 tỷ đồng năm 2014 lên 62.734 tỷ đồng. Trong khi đó, nợ ngắn hạn giảm từ con số 40.913 tỷ đồng năm 2014 xuống 37.609 tỷ đồng.

Trong đó, tiền vay ngân hàng của TKV là con số cao ngất ngưởng. Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn tại TKV đạt 16.412 tỷ đồng. Vay và nợ thuê tài chính dài hạn đạt 61.675 tỷ đồng. Như vậy, số nợ chịu lãi suất tại TKV lên tới 78.078 tỷ đồng. Chính vì vậy, năm 2015, TKV “còng lưng” trả lãi ngân hàng. Năm 2015, TKV phải trả 3.831 tỷ đồng tiền lãi vay. Bình quân, mỗi ngày mở mắt ra, Tập đoàn này phải trả tới 10,5 tỷ đồng tiền lãi.

Tới năm 2016, TKV chưa công bố báo cáo tài chính cả năm nhưng số liệu nửa năm cho thấy, TKV vẫn chưa cải thiện được nợ nần. Tổng nợ phải trả tại tập đoàn này đã tăng 3.670 tỷ đồng lên 104.013 tỷ đồng.

Không chỉ tổng nợ phải trả tăng cao, tổng nợ vay cũng đi lên. Theo báo cáo tài chính hợp nhất 6 tháng đầu năm 2016, tại thời điểm cuối quý 2, tổng nợ vay tại TKV đạt 82.135 tỷ đồng, tăng 4.057 tỷ đồng so với năm 2015.

Nợ vay tăng nên TKV tiếp tục è cổ trả lãi. Chi phí lãi vay nửa đầu năm 2016 của TKV là 2.188 tỷ đồng. Như vậy, sau 1 đêm, tập đoàn này phải trả tới 12 tỷ đồng tiền lãi.

Lợi nhuận lao dốc

Cũng như nhiều doanh nghiệp Nhà nước khác, TKV đang trong tình trạng lãi vay “ăn mòn” lợi nhuận. Theo báo cáo tài chính hợp nhất 6 tháng đầu năm 2016 của TKV, lợi nhuận sau thuế trong kỳ của Tập đoàn chỉ đạt 197 tỷ đồng, giảm 669 tỷ đồng, tương ứng 77,25% so với cùng kỳ năm 2015. Đây là đà giảm rất mạnh.

Có thể thấy, mức lãi 197 tỷ đồng trong nửa năm 2016 của TKV chỉ bằng 9% lãi vay. Tức là, làm được bao nhiêu, TKV phải “nuôi” ngân hàng gần hết.

Đây không phải lần đầu tiên TKV chứng kiến lợi nhuận giảm sút và lãi vay “ăn mòn” lợi nhuận. Năm 2015, lợi nhuận sau thuế của TKV chỉ đạt 472 tỷ đồng, giảm 1.646 tỷ đồng, tương ứng 78% so với năm 2014.
Bên cạnh doanh thu giảm sâu, chi phí lãi vay cũng là cản lực của TKV. Năm 2015, TKV phải trả 3.831 tỷ đồng tiền lãi vay. Như vậy, lợi nhuận của TKV chỉ bằng 12% so với chi phí lãi vay.

Những năm trước đó, TKV cũng rơi vào cảnh ngộ lợi nhuận đi lùi, dù tốc độ khiêm tốn hơn rất nhiều so với năm 2015 và 2016.

Cụ thể, năm 2014, lợi nhuận sau thuế tại TKV đạt 2.118 tỷ đồng, giảm nhẹ so với con số 2.321 tỷ đồng năm 2013. Trước đó, năm 2012, lợi nhuận sau thuế tại TKV là con số lớn hơn, lên tới 2.588 tỷ đồng.

Điều đáng nói, trong khi các tập đoàn khác đã công bố báo cáo tài chính theo đúng quy định thì TKV không những chưa công bố báo cáo tài chính 2016 mà còn công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2016 với thông tin chưa đầy đủ.

Trong nhiều năm qua, TKV chỉ công bố bảng cân đối kế toán mà không công bố thuyết minh báo cáo tài chính.
BẢO LINH

-------------
----

NewVnNews - Sau 2 tuần ngụp lặn vì giáng sinh và năm mới, Bitcoin đang trở lại mạnh mẽ, vượt 17.000 USD. Đây là mức cao nhất của Bitcoin kể từ ngày 22/12, khi nhà đầu tư bán tháo trên toàn thị trường.
Ngày 17/12 vừa qua, bitcoin lập đỉnh khi giá 1 đồng lên tới 20.000 USD. Tuy nhiên sau đó bitcoin đã đảo chiều giảm sâu do giáng sinh và năm mới đến gần, nhà đầu tư chốt lời để nghỉ ngơi sau 1 năm đầu tư thành công. Điều này khiến giá bitcoin có lúc thậm chí xuống dưới 11.000 USD.

Những ngày cuối năm 2017, giá bitcoin hồi phục nhưng vẫn chỉ "ngụp lặn" trong khoảng 13.000-15.000 USD.

Tuy nhiên, sang năm 2018, bitcoin đã nhanh chóng lấy lại đươc đà tăng giá. Đồng tiền số này chỉ giảm nhẹ trong ngày 1/1 rồi sau đó tăng liên tiếp trong 5 ngày gần đây.




Tính đến sáng 6/1, Bitcoin đã vượt 17.000 USD, mức cao nhất kể từ ngày 22/12, là ngày toàn thị trường tiền số gặp "bão", tất cả các đồng tiền cùng giảm 30-50%.

Trái ngược với đà tăng của bitcoin, nhiều đồng tiền lớn khác lại đang giảm giá. Ripple giảm 5%, Ethereum giảm gần 1%, Cardano giảm 16%, TRON giảm 10%...

Bitcoin Cash và Litecoin đang tăng cùng chiều với bitcoin, mức tăng tương ứng là 4% và 8%.

Mới đây, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gọi bitcoin là bong bóng đầu cơ. Bài báo nói bong bóng Bitcoin được tạo ra bởi sự kết hợp giữa thổi phồng, những điều bí hiểm, sự phi tập trung hóa, và thậm chí là giao dịch nội gián - ý nói một nhóm nhỏ những người sở hữu Bitcoin đang đầu cơ giá lên và thao túng các nhà đầu tư nói chung.



Bài báo so sánh Bitcoin với bong bóng hoa tulip ở Hà Lan hồi thế kỷ 17 - khi giá nụ hoa tulip tăng vọt rồi sụt giảm chóng mặt. Bài báo cũng nói bong bóng Bitcoin sẽ vỡ sau khi các chính phủ trên thế giới thắt chặt kiểm soát tiền ảo.

Tại Việt Nam mới đây, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương nghiên cứu, đề xuất việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để quản lý tiền ảo tại Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/1/2018.

Theo Trí Thức Trẻ

NewVnNews - Tôi vẫn nhớ như in buổi nói chuyện với vị giáo sư môn Tài chính công ở Boston College về thuế VAT.


Thầy kể là sau khi được mời vào Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton, Joseph Stiglitz (Nhà kinh tế học từng được trao Nobel Kinh tế) gọi điện cho thầy. Ông hỏi đại ý: “Nếu anh được đề xuất một cải cách về tài chính công cho nước Mỹ thì anh sẽ đề xuất điều gì?”.

Thầy tôi không do dự trả lời ngay rằng cần phải thay thuế doanh thu bằng thuế giá trị gia tăng (VAT) vì sắc thuế này minh bạch, tránh được hiện tượng “thuế chồng thuế”, và thường là một nguồn thu quan trọng nhất ở các nước áp dụng nó.

Vì VAT “không có mắt”, không phân biệt người giàu hay người nghèo, nam hay phụ, lão hay ấu, cứ tiêu dùng mặt hàng như nhau thì đóng thuế như nhau.


Đề xuất tăng thuế VAT lần này của Bộ Tài chính tuy không làm tôi ngạc nhiên nhưng khiến tôi thất vọng, bởi vì nó không chỉ tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội, mà còn không giúp giải quyết tận gốc vấn nạn thâm hụt ngân sách và nợ công hiện nay. Vì sao lại như vậy?

Theo Bộ Tài chính, lý do cơ bản của việc tăng thuế VAT là để tăng ngân sách, coi đó là cách để giảm nợ công và thâm hụt ngân sách. Cơ quan này cho rằng thuế suất VAT của Việt Nam hiện nay quá thấp so với “thông lệ quốc tế”, vì thế việc tăng VAT là một mũi tên trúng hai đích: vừa giúp tăng ngân sách, vừa thuận theo “thông lệ quốc tế”.

Đầu tiên, phải khẳng định ngay rằng không có cái gọi là “thông lệ quốc tế” về thuế suất VAT. Thuế suất VAT phổ thông (standard VAT) có thể dao động từ mức 5% như ở Đài Loan, Kuwait hay Nigeria cho đến 25-27% như ở nhiều nước EU. Nhìn ra láng giềng, thuế suất cũng không hề nhất quán, có thể chỉ ở mức 5-7% như Đài Loan (5%), Thái Lan (7%) hay Singapore (7%) hay lên cao hơn như ở Philippines (12%) và Trung Quốc (17%). Những con số này còn cho thấy so với các nước trong khu vực, thuế suất VAT phổ thông 10% của Việt Nam hiện nay là ở mức trung bình chứ không hề thấp như Bộ Tài chính tuyên bố.

Thứ hai, tăng thuế VAT sẽ làm cho bất bình đẳng trong xã hội tăng lên. VAT không có mắt, không phân biệt giàu nghèo. Trong khi đó, người nghèo có tỷ lệ thu nhập dành cho tiêu dùng cao hơn người giàu - vì đa số tiêu dùng của họ là hàng thiết yếu - vì vậy gánh nặng thuế họ phải chịu sẽ chiếm một tỷ lệ cao hơn so với thu nhập. Tăng thuế VAT vì vậy sẽ làm người thu nhập thấp bị tổn thương nhiều hơn - do đó khó được chấp nhận dưới góc độ công bằng.

Thứ ba, lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng tổn thất phúc lợi vô ích tỷ lệ với bình phương thuế suất. Tổn thất phúc lợi này bắt nguồn từ thực tế là khi thuế tăng, gánh nặng thuế trên vai của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng đều tăng lên. Hệ quả là tăng thuế suất sẽ dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế.

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi tăng trưởng GDP phụ thuộc rất nhiều vào tiêu dùng cuối cùng, đồng thời chi phí kinh doanh của doanh nghiệp - cả chi phí “hữu hình” lẫn chi phí “vô hình” - hiện đã rất lớn thì việc dồn thêm gánh nặng thuế khóa lên vai họ vào lúc này sẽ chỉ càng làm hao mòn sức khỏe của họ.

Nếu trong thập niên 2010, tỷ lệ các doanh nghiệp đóng thuế thu nhập còn chiếm đến 2/3 thì hiện nay, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 1/3. Liệu trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp đang chới với như thế này, một chính phủ “kiến tạo phát triển” và “đồng hành với doanh nghiệp” có nên tăng thêm gánh nặng thuế khóa hay không? Hơn nữa, liệu có nên đánh đổi tăng ngân sách trước mắt với sức cạnh tranh của doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn hay không?

Vấn đề thứ tư là hiệu lực thực thi của việc tăng thuế suất. Khi thuế suất VAT 10% đã xuất hiện các “công ty ma” để mua bán hóa đơn, trốn và tránh thuế. Thế thì khi thuế suất tăng, động cơ của trốn và tránh thuế ngày càng cao, dẫn tới xói mòn cơ sở thuế. Hơn nữa, tỷ trọng đóng góp của VAT trong tổng thu ngân sách của Việt Nam hiện đã rất cao, lên tới 27,5% tổng thu ngân sách, cao hơn hẳn so với mức 21,4% của các nước EU - là những nước thuộc nhóm có thuế suất VAT cao nhất thế giới, với mức thuế suất phổ thông trung bình lên tới 21,3%. Điều này cũng ngụ ý rằng, việc tăng thuế suất VAT không hiển nhiên cải thiện vai trò của sắc thuế này trong tổng ngân sách. Nói tóm lại, mục tiêu tăng thuế suất để tăng vai trò của thuế VAT trong tổng thu ngân sách chưa chắc đã đạt được.

Cuối cùng, hai lý do chính của Bộ Tài chính khi tăng thuế suất VAT “để tăng ngân sách và giảm bớt gánh nặng nợ công” thì đây mới chỉ là góc nhìn phiến diện một chiều.

Nguồn gốc của nợ công và thâm hụt ngân sách nặng nề ở Việt Nam không phải do thiếu khả năng huy động ngân sách mà chính là do hiệu quả chi ngân sách thấp, trong khi tỷ lệ chi ngân sách hiện đã rất cao, lên tới 28-29% GDP. Việc tăng thuế VAT để tăng thu ngân sách không những không giải quyết được gốc rễ của vấn đề mà còn tạo điều kiện và dung dưỡng cho việc chi ngân sách “vung tay quá trán” hay các dự án nghìn tỷ đắp chiếu và kém hiệu quả.

“Thông lệ quốc tế” mà Bộ Tài chính cần áp dụng hiện nay không phải là tăng thuế mà là tăng hiệu quả và tiết giảm chi tiêu ngân sách để giảm nợ công và thâm hụt ngân sách.

Tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh là Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP. HCM, đồng thời là Nhà nghiên cứu cao cấp tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy.



Thuế VAT và ngân sách

6 tháng đầu năm 2017, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, ngân sách thu được 141.000 tỉ đồng từ thuế VAT.

Giả sử, trong 6 tháng tới, ngân sách có thể thu thêm được chừng đó thì tổng cộng cả năm 2017 sẽ thu được 282.000 tỉ đồng thuế VAT.

Mức thuế VAT trên đang được thu phổ biến với 10%, như vậy, khi Bộ Tài chính đề xuất tăng lên 12%, tức thêm 2 điểm phần trăm, thì số thuế thu thêm sẽ là 5.640.

Dĩ nhiên, con số trên có thể cao hơn vì phải đến năm 2019 mới áp dụng. Hơn nữa, trong dự thảo sửa đổi thuế VAT lần này, phương án Bộ Tài chính đề nghị chủ yếu ba điểm:


Nhóm thuế suất VAT thông thường từ 10% lên 12%

Nhóm thuế suất 5% lên 6-10% tùy loại (Hiện tại nhóm này có 14 nhóm hàng hóa)

Nhóm chưa chịu thuế suất lên chịu thuế suất 5% (Gồm phân bón, máy móc, thiết bị chuyên dùng cho nông nghiệp, tàu đánh bắt xa bờ).

Mục tiêu của tăng thuế VAT là để bù đắp cho ngân sách, bảo đảm an toàn tài chính.

Ngân sách có ba phần chi:
1. Chi thường xuyên (chi hành chính, sự nghiệp)
2. Chi trả nợ và viện trợ
3. Chi đầu tư phát triển

6 tháng đầu 2017, theo ước tính của Tổng cục Thống kê, thu ngân sách Nhà nước đạt 500.900 tỉ đồng, bằng 41,3% dự toán cả năm.

Chi ngân sách trong cùng thời gian ước tính đạt 533.400 tỉ đồng, bằng 38,4% dự toán cả năm, trong đó chi thường xuyên đạt 398.900 tỉ đồng, chi trả nợ lãi 50.000 tỉ đồn, chi trả nợ gốc 88.100 tỉ đồng, và chi đầu tư phát triển chỉ 83.300 tỉ đồng.

Như vậy, có thể thấy ngân sách thu ít chi nhiều, bội chi lên tới hơn 33.000 tỉ đồng trong 6 tháng đầu năm.

Nhìn vào cơ cấu ngân sách, hiện tại, phần chi thường xuyên đang rất lớn, phần chi trả nợ và viện trợ cũng ngày một nhiều do nợ công đang đụng trần và tất yếu phần chi đầu tư phát triển sẽ ngày một ít đi.

NewVnNews - Quốc hội lại “nóng” lên với câu hỏi về những hệ lụy mà hệ thống ngân hàng đang giải quyết như nợ xấu, ngân hàng yếu kém… là trách nhiệm của ai? Liệu những ngân hàng đáng nhẽ đã bị phá sản nhưng được NHNN mua về liệu có thể “sống lại” được không?

TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện phát triển kinh doanh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.

Trả lời những câu hỏi này, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện phát triển kinh doanh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia (ông Nghĩa cũng từng là Vụ trưởng vụ Chiến lược phát triển - Ngân hàng Nhà nước) khẳng định những ngân hàng yếu kém và bị mua 0 đồng là do chính ông chủ nhà băng sai phạm, có gian lận thật sự trong hoạt động tín dụng.

“Mẹ” của những ngân hàng 0 đồng quá lớn để chết

Nhiều ý kiến cho rằng, việc 3 ngân hàng bị mua 0 đồng là do được chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên thành thị, quy mô tăng quá nhanh so với năng lực quản lý của cả cơ quan quản lý và ngân hàng. Ông bình luận gì về quan điểm này?

Số lượng ngân hàng được nâng cấp từ nông thôn lên thành thì rất lớn, không chỉ 3 ngân hàng này. Nguyên nhân chính khiến những ngân hàng này yếu kém là do năng lực quản lý không theo kịp tốc độ tăng vốn, tổng tài sản.

Đặc biệt các ông chủ nhà băng lợi dụng tiền gửi của người dân để cho vay chéo, cho vay tập đoàn của họ, tập đoàn của bạn bè họ. Những tập đoàn này chỉ có số ít là đứng tên họ, thậm chí có những công ty con, họ và những người có liên quan không đứng tên. Những công ty này chủ yếu để kinh doanh bất động sản hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh.

Vậy nên, khi kinh tế khó khăn, bất động sản đóng băng, sản xuất kinh doanh khó khăn thì những ngân hàng này bị rơi vào tình trạng mất thanh khoản. Lỗi ở đây là ông chủ nhà băng vi phạm pháp luật về việc cho vay người có liên quan. Vì hoạt động cho vay người có liên quan đã được pháp luật quy định trong Luật các TCTD rồi, nhưng những ông chủ nhà băng đã giấu giếm nó một cách khá kín đáo.

“Những người liên quan này” không đứng tên họ, thậm chí là người thân trong gia đình họ. Họ nhờ một người nào đó đứng tên như bà tạp vụ, ông lái xe. Một ông chủ nhà băng có hàng chục công ty con là chuyện bình thường. Đấy là những điều khó khăn cho cả công tác điều tra của công an, vậy nên thanh tra ngân hàng không thể làm nổi.

Ông có thể nói rõ hơn về quan điểm năng lực quản lý không theo kịp tốc độ phát triển?

Thông thường là các NHTM đang hoạt động ở quy mô nhỏ thì ông chủ nhà băng và HĐQT có thể kiểm soát được hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng như cho ai vay bao nhiêu…

Nhưng khi ngân hàng có quy mô lớn hơn thì cùng với những khuất tất trong việc cho vay chéo vào những công ty con của mình khiến cho quản trị bị trở nên vô hiệu. Giám sát của HĐQT đối với những khoản vay đó vô hiệu bởi chính ông chủ nhà băng là người vi phạm nhiều nhất.

Nói thẳng thừng ra, người vi phạm cho vay nhiều nhất chính là chủ tịch HĐQT, tức là ông chủ nhà băng đấy. Chính vì vậy họ đã vô hiệu hóa toàn bộ quản trị rủi ro, giám sát của HĐQT, vô hiệu quá toàn bộ kiểm toán nội bộ. Ở đây tôi muốn nói là một mặt không theo kịp trình độ quản lý, một mặt là có gian lận thật sự.

Chẳng nhẽ thanh tra giám sát ngân hàng giai đoạn đó không phát hiện ra?

Lực lượng của thanh tra giám sát ngân hàng thời điểm đó rất là mỏng so với số lượng ngân hàng. Trong khi đó, thời điểm năm 2008 - 2011 là thời điểm bất động sản, chứng khoán tăng rất là mạnh. Nhiều doanh nghiệp tập đoàn, trong đó có cả ngân hàng lao vào việc kinh doanh, mua bán tích trữ bất động sản. Lực lượng thanh tra giám sát ngân hàng thời điểm đó mỏng như vậy nên không thể kiểm soát nổi.

Thị trường đến này vẫn băn khoăn về nguồn tiền mà NHNN dùng để cho mua 3 ngân hàng 0 đồng?

Mua ngân hàng không tốn xu nào, NHNN có tiền đâu mà mua. Thực tế, một mặt thì NHNN nói đây là “ngân hàng của tao” và dân chúng yên tâm gửi tiền trở lại. Điều này giúp cho tiền gửi của ngân hàng này phục hồi.

Thứ 2, NHNN nói “nếu mày thiếu tao gọi một số ngân hàng đến cho vay”. Trong trường hợp đó, nếu còn thiếu, NHNN sẽ cho nhà băng vay tái cấp vốn đặc biệt.

Tái cấp vốn đặc biệt thì ngân hàng phải chịu lãi suất cao hơn lãi suất thông thường, đây là lãi suất mà NHNN phạt những ngân hàng sai phạm trong hoạt động dẫn đến mất thanh khoản. Đến khi ngân hàng đó được củng cố, thanh khoản trở lại bình thường thì phải trả lại cho NHNN. Tức là, NHNN là con nợ số 1 mà ngân hàng đó phải trả đầu tiên. Như vậy, NHNN không trực tiếp bỏ tiền ra.

Với những ngân hàng này, mình cũng không lo xung đột lợi ích vì NHNN không trực tiếp quản lý mà giao cho một NHTM quản lý. Thực tế với 3 ngân hàng mua 0 đồng, NHNN đã giao cho Vietinbank và Vietcombank quản lý.

Trong trường hợp những ngân hàng này chết thì khoản tiền đó sẽ thế nào?

Làm sao chết được. Nó đã được NHNN mua rồi thì làm sao chết được. Ý tôi muốn nói, nó đã trở thành ngân hàng của cơ quan có máy in tiền trong tay thì làm sao chết được. Cơ quan “mẹ” của nhà băng 0 đồng quá lớn để chết.

Con số nợ xấu 17,21% không có gì bí mật

Khi nợ xấu được đưa về 2,9% thì nguyên Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu lại nói về sự bất nhất của con số nợ xấu như báo cáo Chính phủ đã đưa ra con số nợ xấu của tháng 9/2012 là 4,94%. Nhưng nay, báo cáo Chính phủ trước Quốc hội lần này lại đưa ra con số nợ xấu vào tháng 10/2015 là 17,43%. Trước đó, NHNN cũng từng báo cáo con số nợ xấu vào tháng 9/2012 là 17,21%. Ông bình luận gì về sự bất nhất trong con số nợ xấu mà người tiền nhiệm của Thống đốc Bình đã đưa ra?

Cái đó thì tôi không rõ nhưng để xây dựng đề án tái cơ cấu ngân hàng thì người ta phải biết chính xác con số nợ xấu thời điểm đó là bao nhiêu. Con số đó phải được NHNN kiểm tra. Còn việc NHNN báo cáo thế nào thì tôi không rõ. Nhưng tôi khẳng định con số nợ xấu 17,21% đã từng được nghe rất nhiều.

Tôi không biết các con số này được hình thành thế nào nhưng có thể một bên là con số của báo cáo các TCTD, một bên là của cơ quan thanh tra giám sát NHNN.

Con số đó không được công bố công khai vào thời điểm đó. Đó là con số mật.

Vậy con số nợ xấu 17% là hệ quả của quá trình nào?

Còn số 17% là hệ quả của quá trình đẩy tín dụng quá cao trong giai đoạn  2008 - 2011 lên 50% sau đó có sụt giảm đôi chút nhưng đến năm 2011 lại lên 37%. Tín dụng thời kỳ đó dù dưới hình thức này hay hình thức khác đều tập trung vào thị trường tài sản là bất động sản, chứng khoán.

Cũng có một số hoạt động tín dụng tập trung vào những chương trình kích thích kinh tế của Chính phủ. Một số doanh nghiệp tưởng lãi suất thấp nên vay đầu tư trung và dài hạn, nhưng vừa vay giữa chừng thì lãi suất lên vù vù đành phải ngưng lại. Điều này khiến cho nhiều nhà máy "chết" vì không có vốn để xoay vòng và nợ xấu nằm ở đấy.1
-------------
----

NewVnNews - Tin từ Bộ Công Thương cho biết, việc tạm dừng thị trường phát điện cạnh tranh từ ngày 1-10 vừa qua để xử lý tình huống khẩn cấp nên phải can thiệp vào thị trường.

Tại dự án nhà máy điện khí Nhơn Trạch 2 của Tập đoàn Dầu khí  Việt Nam (PVN).
Nguyên nhân dừng: Do cả cung và cầu ngoài dự tính

Sau văn bản ban hành cuối tháng 9 vừa qua về việc tạm dừng vận hành thị trường phát điện cạnh tranh, vốn đã vận hành gần 5 năm nay, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng đã giải thích cụ thể hơn về những vấn đề xung quanh quyết định tạm dừng này.


Theo đó, nguyên nhân dẫn đến việc tạm ngừng thị trường điện xuất phát từ cả phía cung và phía cầu.

Về phía cầu, trong 8 tháng đầu năm 2017, phụ tải điện chỉ tăng trưởng khoảng 8,5%, thấp hơn so với kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết năm nay có nhiều diễn biến bất thường. Mùa khô phía Nam năm nay rất ngắn và không có các đợt nắng nóng dài ngày nhiều dẫn đến mức tăng trưởng điện cho sinh hoạt tăng thấp (chỉ tăng khoảng hơn 3%).

Về phía cung, các nhà máy thủy điện đều đã được huy động tối đa (do lưu lượng nước về hồ để khá cao), thậm chí nhiều hồ phải thực hiện xả nước để đảm bảo an toàn đập. Riêng trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10-2017, nhiều nhà máy thủy điện đã phải thực hiện xả nhằm đảm bảo an toàn công trình đập.

Theo số liệu thống kê, số lượng các nhà máy thủy điện phải đồng loạt xả nước là 21 nhà máy trong tháng 7, 55 nhà máy trong tháng 8, 54 nhà máy trong tháng 9 và trong đầu tháng 10 cũng đã có 54 nhà máy thủy điện phải xả nước. Do cần đảm bảo ưu tiên cho các hồ thủy điện phục vụ công tác điều tiết nước để phòng, chống lũ, nên phải can thiệp thường xuyên, liên tục vào công tác vận hành của nhà máy thủy điện để kịp thời đối phó với các diễn biến bất thường về thủy văn.

Vẫn theo Bộ Công Thương, trong khi đó, trong thị trường phát điện cạnh tranh, do hạn chế về cơ sở hạ tầng, theo qui định các nhà máy thủy điện nộp bản chào giá trước một ngày cho 24 tiếng của ngày tiếp theo nên trước các biến động thủy văn bất thường như các tháng vừa qua, các nhà máy thủy điện khó khăn trong việc cập nhật, điều chỉnh trong ngày vận hành thực tế.

Thực tế, đã xảy ra trường hợp một vài nhà máy điện đã phải xả nước không qua phát điện do chào giá cao, trong khi lưu lượng nước về trong ngày tăng đột biến.

Với những lý do như vậy, cộng với việc phải khai thác thêm các nguồn điện chạy khí nhằm khai thác hết sản lượng khí bao tiêu và hạn chế quá tải trên đường dây 500kV nên Bộ Công Thương đã tạm dừng thị trường phát điện cạnh tranh để ưu tiên mua điện từ các nhà máy điện khí. Trong các hợp đồng PPA được ký giữa EVN - bên mua điện với các nhà máy điện khí cho cả đời dự án, có cam kết bao tiêu sản lượng theo hợp đồng. Việc này được tính toán theo kế hoạch từ đầu năm 2017 theo phụ tải dự báo giữa  EVN và các đơn vị phát điện tham gia thị trường.

Chi phí mua điện khí có đắt hơn?



Việc đưa thị trường phát điện cạnh tranh chính thức đi vào hoạt động gần 5 năm nay là thực hiện theo quy định của Thủ tướng từ năm 2013, thực hiện theo lộ trình và các cấp độ phát triển của thị trường điện. Khi tạm dừng vận hành thị trường điện, theo lý giải của Bộ Công Thương là căn cứ vào Thông tư số 30/2014 của Bộ Công Thương quy định về các trường hợp được phép can thiệp, tạm dừng vận hành thị trường điện cũng như việc khôi phục vận hành thị trường trở lại sau khi đã xử lý khắc phục được các nguyên nhân. “Việc quyết định tạm dừng thị trường thực hiện theo quy định tại Điều 60 của thông tư nói trên để xử lý các tình huống khẩn cấp”, Bộ Công Thương nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bộ cũng bổ sung, trong giai đoạn tạm ngừng thị trường điện thì việc huy động các nhà máy điện vẫn được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên huy động các nhà máy thủy điện đang xả nước hoặc có nguy cơ xả nước; khai thác tối đa các nguồn nhiệt điện khí, còn lại sẽ ưu tiên huy động các nhà máy nhiệt điện than theo giá hợp đồng từ thấp đến cao. Vì thực tế, các nhiệt điện khí đang có chi phí sản xuất điện thấp hơn so với các nhà máy nhiệt điện than.

Theo Cục Điều tiết điện lực, ngay cả trong thị trường phát điện cạnh tranh, theo kết quả vận hành các năm gần đây, các nhà máy nhiệt điện khí cũng được huy động ở mức khá cao, thường vượt mức sản lượng kế hoạch (nhờ có giá chào hợp lý). Theo báo cáo của EVN, kể cả trong trường hợp huy động tối đa các nhà máy điện khí trong ba tháng còn lại của năm 2017, tổng sản lượng các nhà máy điện khí cũng chỉ tăng thêm 189 triệu kWh so với mức sản lượng của các nhà máy theo kế hoạch vận hành trước đây.

Mức tăng thêm này được đánh giá là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,094% so với tổng nhu cầu phụ tải trong ba tháng cuối năm 2017. Bộ Công Thương cho rằng, với có số định lượng như trên, việc khai thác thêm các nhà máy điện khí ảnh hưởng rất nhỏ đến chi phí phát điện chung của toàn bộ hệ thống điện.

Bộ Công Thương khẳng định, thị trường phát điện cạnh tranh sẽ vận hành trở lại ngay sau khi khắc phục được các nguyên nhân dẫn đến dừng thị trường. Trong thời gian đó, vẫn ưu tiên huy động các nhà máy thủy điện đang xả nước hoặc có nguy cơ xả nước.

Hiện tại Việt Nam có 6 dự án nhiệt điện khí đang vận hành của Tập đoàn Dầu khí, dự án BOT Phú Mỹ và Bà Rịa…. Năm 2016, trong tổng sản lượng của hệ thống điện lên đến 183,28 tỉ kWh, lượng điện khí chiếm 25,7%1
NewVnNews

NewVnNews - Lợi nhuận 6 tháng đầu năm nay của nhà máy in tiền quốc gia giảm so với cùng kỳ năm trước, nhưng lại gần bằng lợi nhuận cả năm 2016. Thông thường, nhà máy in tiền lãi lớn 6 tháng đầu năm và lỗ trong 6 tháng sau đó.

Nhà máy in tiền Quốc gia là là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, với ngành nghề hoạt động kinh doanh chính là in, đúc tiền, sản xuất vàng miếng, vật phẩm, lưu niệm bằng vàng và các loại giấy tờ có giá theo kế hoạch được giao của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Về cơ bản, hoạt động của Nhà máy In tiền cũng giống như các doanh nghiệp in ấn thông thường, nhưng phục vụ “khách hàng” đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước.

Theo kết quả hoạt động kinh doanh mới được công bố, 6 tháng đầu năm nay nhà máy đạt doanh thu 781 tỷ đồng, giảm khoảng 6% so với cùng kỳ năm trước và mới chỉ bằng 1/3 so với doanh thu 2016.

Trung bình, doanh thu mỗi ngày của nhà máy in tiền khoảng hơn 4 tỷ đồng.

Về lợi nhuận, nhà máy in tiền đạt 41,8 tỷ đồng sau 6 tháng, gần bằng kết quả của cả năm trước. Tuy nhiên, nếu so với 6 tháng cùng kỳ 2016, lợi nhuận của nhà máy lại giảm tới 67%. Trong 6 tháng đầu năm nay, nhà máy in tiền đã phải đền bù 6,7 tỷ đồng cho Innovia do làm hỏng hơn 3 triệu tờ giấy B09.

Tính đến cuối tháng 6/2017, Nhà máy In tiền Quốc gia có tổng tài sản 2.235 tỷ đồng, trong đó tiền và các khoản tương đương tiền chiếm 411 tỷ đồng.

Cafebiz
NewVnNews

NewVnNews - Người Trung Quốc đã chuẩn bị mọi kế sách thâm sâu cho việc hình thành “ma trận phá hoại”. Vì vậy muốn đối phó hiệu quả thì phải có một hệ thống bao gồm...


VOA ngày 8/12/2015 đưa tin. một số người dân Đà Nẵng đã né luật để giúp người Trung Quốc mua đất ven biển hướng ra Biển Đông. Trước thông tin này, nhiều người nhận định đây là hành vi rất tai hại cho đất nước Việt Nam.

Song với người viết thì hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của một nhóm người Việt Nam “không yêu nước” ấy không quá nguy hại, bởi lẽ nó có thể ngăn chặn được. Sự nguy hại thực sự lại nằm ở phía sau hành động của người Trung Quốc.

Như người viết từng phân tích qua bài “Quy trình ngược tinh vi”, Trung Quốc luôn tìm cách hợp pháp hoá những hành vi gây hại của họ, để từ đó triệt hạ đối phương một cách dễ dàng và tác hại đạt mức cao nhất.

Khi đối phương ngấm đòn thì họ bắt đầu gây nhiễu loạn, từ đó tạo ra hiệu ứng phải điều chỉnh cơ chế quản lý của cả một quốc gia để đối phó với “nhân tai” Trung Quốc. Lúc đó một “ma trận phá hoại” được người Trung Quốc giăng ra với bao hệ luỵ cho cả một đất nước.

Người Trung Quốc có thể thay đổi sở hữu tại một vài doanh nghiệp Việt Nam, khiến cho luật pháp của Việt Nam phải bổ sung, sửa đổi nhưng không dễ ngăn chặn.

Trong bài “Cần cảnh giác với ma trận phá hoại kinh tế Việt Nam từ Trung Quốc”, người viết đã phân tích, sự nguy hiểm bởi “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là, chỉ cần vài tác nhân mang “yếu tố” Trung Quốc gây hại đã có thể khiến cả một nền kinh tế phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề.

Và theo cá nhân người viết thì có thể nhận diện, hiện nay kinh tế Việt Nam đã bị hoành hành bởi cái “ma trận phá hoại” ấy của người Trung Quốc.

Theo VnExpress, ngày 26/7 vừa qua, ông Trần Văn Sơn, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Đà Nẵng đã cho biết, chỉ cần góp vốn, mua cổ phần rất nhỏ tại các doanh nghiệp, dự án...nhiều người Trung Quốc đã có thể trở thành nhà đầu tư, sử dụng đất tại Việt Nam.

Song nhiều người đến Đà Nẵng không phải để kinh doanh, mà là muốn có giấy chứng nhận đầu tư để làm việc khác. Và ông Sơn đã đề nghị cần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam. [2]

Trong khi đó, ông Lưu Phước Lộc - Giám đốc Công ty chế biến gỗ Mtrade, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương cũng cho biết, hiện nay đang có làn sóng các doanh nghiệp gỗ của Trung Quốc đầu tư vào tỉnh Bình Dương.

Nguy hại là ở chỗ họ đội lốt doanh nghiệp Việt Nam, mang hàng hoá gần như thành phẩm sang hoàn tất, để lấy xuất xứ Việt Nam xuất khẩu. Ông Lộc đề xuất Bộ Công thương nên có chính sách về xuất xứ rõ ràng hơn. [4]

Như vậy là hệ thống luật pháp Việt Nam phải có những bồ sung, sửa đổi để có thể tránh thiệt hại cho kinh tế - xã hội vì những yếu tố gây hại từ Trung Quốc.

Tuy nhiên, đối phó virus từ “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là cực kỳ khó khăn, trong khi đó Việt Nam lại có thể phải gánh hậu quả, bởi những biện pháp phá “ma trận phá hoại” có nguy cơ làm thiệt hại cho những đối tác quan trọng khác của Việt Nam.

Trung Quốc "nẫng tay trên" những lợi ích to lớn của người dân, doanh nghiệp Việt Nam từng ngày

VOA ngày 18/12/2015 dẫn lời một nhà hoạt động xã hội Nhật Bản cho biết, các cánh tay của doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam là rất đáng lo ngại.

Điều nguy hiểm là người Trung Quốc đang gây thiệt hại cho người dân, cho doanh nghiệp Việt Nam một cách rõ ràng, không cần sự tiếp tay của người Việt Nam.

Hành động của họ rất cụ thể nhưng các cấp chính quyền Việt Nam không thể ngăn chặn hay xử lý, bởi lẽ nó không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam. Điều đó cho thấy, lợi ích của Việt Nam đang bị mất đi một cách "hợp pháp."

Theo Infornet, ông Trần Văn Sơn, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Đà Nẵng cho biết, Luật Đất đai của Việt Nam không cho phép người nước ngoài sở hữu đất đai tại Việt Nam.

Vì vậy, người Trung Quốc mua cổ phần hay liên doanh với công ty trong nước theo tỳ lệ, bên Việt Nam 51% nhưng góp vốn bằng quyền sử dụng đất - bên Trung Quốc 49%. Từ đó hình thành nên doanh nghiệp đầu tư trong nước và được cấp phép hoạt động.

Tuy nhiên, khi đi vào hoạt động, phía Trung Quốc mua hết 51% cổ phần của phía Việt Nam, điều đó được Luật Doanh nghiệp cho phép.

Lúc này doanh nghiệp đã trở thành “mình ong xác ve” – doanh nghiệp trong nước nhưng thuộc sở hữu 100% của người Trung Quốc, trong đó bao gồm cả quyền sử dụng đất.

Thế là người Trung Quốc có thể sở hữu đất hợp pháp dưới danh nghĩa doanh nghiệp, nhưng luật pháp Việt Nam lại không thể điều chỉnh hành vi này.

71 người Đà Nẵng đứng tên mua 137 lô đất cho người Trung Quốc. Ảnh: Hữu Khá / Báo Tuổi Trẻ.
Và không chỉ dừng lại ở việc sở hữu đất, người Trung Quốc còn tìm cách trốn thuế. Điều 46 Nghị định 118 quy định các tổ chức khi mua cổ phần, góp vốn thì không cần thay đổi giấy chứng nhận đầu tư. Điều này khiến cho nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện chuyển nhượng nội bộ để trốn thuế.

Dù nhận diện được sự thay đổi sở hữu chủ, nhưng không có căn cứ xác định hoạt động chuyển nhượng, vì thế có vụ chuyển nhượng giá trị ngàn tỷ VND không thu được thuế. [3]

Còn theo ông Lưu Phước Lộc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, nếu không có biện pháp cụ thể, rất có thể các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ “chết”.

Doanh nghiệp Việt Nam bị mất đơn đặt hàng hằng ngày, khiến cho thị trường thì còn đó, nhưng miếng bánh đã nằm trong tay người khác. Doanh nghiệp Trung Quốc mang danh doanh nghiệp Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu và khi TPP có hiệu lực thì Trung Quốc sẽ lấy hết lợi thế ưu đãi của Việt Nam. [4]

Mớ bòng bong bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật để phá “ma trận phá hoại” của Trung Quốc và hệ luỵ cho kinh tế đất nước

Có thể thấy rằng, gánh nặng pháp lý hay nói cách khác là những quy định nhiều phân đoạn của pháp luật Việt Nam đang là rào cản đối với các nhà đầu tư, cả trong nước và quốc tế.

Chính phủ kiến tạo vừa mới kiện toàn, đang đặt mục tiêu đơn giản hoá thủ tục hành chính, cắt giảm nhiều tầng nấc trong quản lý, bãi bỏ nhiều quy định “con” để Việt Nam có hành lang pháp lý thông thoáng, thu hút và khuyến khích đầu tư.

Vậy mà khi chưa cắt giảm được bao nhiêu thì “ma trận phá hoại” của Trung Quốc đã làm phát sinh thêm nhiều quy định.

Song bổ sung ra sao, sửa đổi như thế nào, để quy định của pháp luật không còn là rào cản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng như hợp tác – đầu tư thì không dễ nhận diện và thực hiện.

Sẽ có tình trạng “9 người 10 ý” trong việc đề xuất bổ sung, sửa đổi quy định của luật pháp để đối phó với “ma trận phá hoại” Trung Hoa.

Không những vậy, một nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể được điều chỉnh bởi nhiều loại quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực mà nghiệp vụ kinh tế phát sinh đó có liên quan, từ đó sẽ có những bất khả kháng trong bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật vì “lợi bất cập hại” cho đất nước.

Từ thực tiễn đó, việc nhận diện yêu cầu bổ sung, sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trở thành mớ bòng bong với cơ quan quản lý nhà nước. Xin đưa ra ví dụ thực tế.

Theo VnExpress, tại buổi làm việc giữa đoàn công tác trung ương với UBND thành phố Đà Nẵng, Giám đốc Sở Kế hoạch & đầu tư Đà Nẵng đề nghị cần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư quy định thời hạn hoạt động tối đa cho các dự án nhỏ, để cơ quan cấp chứng nhận đầu tư có cơ sở xử lý.

Cần bổ sung quyền cho cơ quan đăng ký đầu tư xem xét về tính khả thi, khả năng đáp ứng tài chính, để xem xét và quyết định đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài…[2]

Có lẽ, chỉ cần nhìn vào vài nội dung đề xuất bổ sung, sửa đổi Luật Đầu tư là có thể khiến cho nhiều nhà đầu tư ái ngại khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, vì nó quá nhiêu khê với người làm ăn chân chính.

Còn những đề xuất thì không thực tế, thậm chí trái với nguyên lý hoạt động kinh tế. Bởi lẽ, một nhà đầu tư có thể bắt đầu với một dự án nhỏ thăm dò, khi đó họ phải được tạo điều kiện tốt, như vậy từ đó họ mới có niềm tin để quyết định mở rộng đầu tư.

Trong khi đó, theo ông Lưu Phước Lộc thì mục đích của các doanh nghiệp Trung Quốc là họ muốn lấy C/O (xuất xứ) của Việt Nam, nên để ngăn chặn tình trạng này Bộ Công Thương phải có quy định với mẫu C/O cụ thể.

Chẳng hạn, bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam theo từng tỷ lệ: 100%, 70% và 50%. Còn đối với những sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa dưới 30% thì dứt khoát không cấp C/O. [4]

Đề xuất của ông Lưu Phước Lộc nghe thì có vể hợp lý nhưng không thực tế, bởi lẽ doanh nghiệp nước ngoài muốn nội địa hoá thì phải từng bước để kiểm tra khả năng và giúp người Việt Nam làm quen với công nghệ của họ.

Do vậy khởi đầu cho một quy trình sản xuất, tỷ lệ nội địa hoá có thể sẽ thấp hơn 30%. Thế là một rào cản với hội nhập đã được dựng lên cho nhà đầu tư và đương nhiên thiệt hại cho kinh tế Việt Nam là rất lớn.

Rõ ràng, việc đối phó với “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc quả là nan giải. Càng tìm cách ngăn chặn nguy cơ gây thiệt hại từ người Trung Quốc thì ngược lại càng làm tăng nguy cơ gây thiệt hại cho những đối tác khác.

Cái “ma trận phá hoại” đã đưa việc bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật, đưa quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý tại một quốc gia vào “mê hồn trận” với cái tỉ lệ nghịch chết người: Nếu giảm thiệt hại từ Trung Quốc sẽ tăng thiệt hại từ đối tác khác.

Làm sao phá được “ma trận phá hoại” của Trung Quốc để tránh hậu hoạ cho đất nước?

Có thể thấy rằng, việc nhân diện nguy cơ từ “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là chậm và bị động với cả hệ thống doanh nghiệp và cơ quan chức năng tại Việt Nam.

Tất cả những đề xuất bổ sung, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật đều ở tình trạng chống chứ không còn thời gian để phòng nữa. Khi cơ quan chức năng hay doanh nghiệp dựa trên thực tế thiệt hại để đề xuất giải pháp thì giải pháp sẽ không thực tế và không kịp thời.

Như người viết đã từng phân tích, “ma trận phá hoại” từ Trung Hoa đại lục đã là những loại virus có thể phá hoại khắp thế giới. Do vậy, đối phó với nó thì phải bắt đầu từ nhận diện nguy cơ tiềm tàng.

Người Trung Quốc đã chuẩn bị mọi kế sách thâm sâu cho việc hình thành “ma trận phá hoại”. Vì vậy muốn đối phó hiệu quả thì phải có một hệ thống bao gồm cả giải pháp, phương pháp, biện pháp khoa học và thực tế. Song quan trọng nhất vẫn là nhận thức được bản chất vấn đề.

Trong khi TPP thì chưa vận hành, nhưng hàng ngày hàng giờ virus từ “ma trận phá hoại” đang gây thiệt rất lớn cho người dân, doanh nghiệp và đất nước.

Người viết cho rằng, không thể liệt kê những kẽ hở của luật pháp Việt Nam khiến cho virus tử thần từ “ma trận phá hoại” Trung Hoa, bởi lẽ những bổ sung, sửa đổi sẽ lên đến con số hàng trăm ngàn khoản mục và như thế “mê hồn trận” càng khủng khiếp hơn.

Do vậy, nhận diện bản chất vấn để qua triết lý kinh doanh và cơ chế hợp tác của người Trung Quốc là điều quan trọng nhất trong việc xây dựng kế sách phá “ma trận phá hoại” Trung Hoa.

Có thể thấy rằng, Singapore là một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc, nhưng chính phủ Singapore vẫn có thể xây dựng đất nước Singapore thành bến đậu tốt nhất cho mọi con thuyền lợi ích thả neo.

Vì vậy, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm của Singapore trong quá trình đối phó với “ma trận phá hoại” Trung Hoa.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://www.voanews.com/content/chinese-land-purchases-danang-residents-help-shock-vietnamese/3094134.html

[2]http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/nguoi-trung-quoc-loi-dung-ke-ho-cua-luat-de-so-huu-dat-da-nang-3442698.html?utm_source=home&utm_medium=box_kinhdoanh_home&utm_campaign=boxtracking

[3]http://infonet.vn/nguoi-trung-quoc-lach-luat-de-so-huu-dat-o-da-nang-ra-sao-post204827.info

[4]http://infonet.vn/go-trung-quoc-bi-to-doi-lot-chen-ep-doanh-nghiep-viet-post203737.info

8/2016 Báo GDVN
NewVnNews

NewVnNews - Ba chữ viết tắt VAT làm tôi chợt bật ra câu hỏi: Vì Ai (mà) Tăng thuế? Vì Ai Thế? Ở một đất nước mà Nhà nước khẳng định là “của dân, do dân, vì dân”, thì rút cuộc tăng thuế VAT lần này là do ai, vì ai?


Trong những ngày hè oi bức này, cái nóng về thời tiết cộng với một loạt chuyện người dân bị “móc túi” đang làm bao người thêm… bức xúc hơn. Chuyện tăng giá thuê đất ở một số nơi còn đang sôi sục, thì trạm thu phí Cai Lậy đã thổi bùng câu chuyện xấu xí về các dự án BOT trong giao thông lên, rồi hai cái chảo đó lại được tiếp lửa bằng đề án sửa 5 thứ thuế của Bộ Tài chính.

Không thể đề cập đến tất cả những chuyện đó, tôi chỉ muốn nói đến VAT- câu chuyện đang nóng nhất- trong bài viết nhỏ này. Ba chữ viết tắt VAT làm tôi chợt bật ra câu hỏi: Vì Ai (mà) Tăng thuế? Vì Ai Thế? Ở một đất nước mà Nhà nước khẳng định là “của dân, do dân, vì dân”, thì rút cuộc tăng thuế VAT lần này là do ai, vì ai?

Theo giấy mời hỏa tốc của Bộ Tài chính, sáng 19/8 vừa rồi, tôi đến dự cuộc họp ở bộ để cùng một số chuyên gia tài chính nghe bộ trình bày những ý tưởng cơ bản và góp ý cho dự án luật đang được Bộ hoàn tất để trình Chính phủ, rồi Chính phủ sẽ trình Quốc hội, để sửa đổi 5 luật thuế ở nước ta.

Vì không phải là chuyên gia tài chính, tôi chỉ phát biểu 3 ý kiến với bộ về cách làm dự án luật này. Tại cuộc họp đó do thời gian rất có hạn, tôi chỉ nói vắn tắt, dưới đây tôi xin làm rõ 3 ý kiến này.

Vấn đề thứ nhất, với mục tiêu “cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô” theo Nghị quyết số 07-NQ/TƯ của Bộ Chính trị mà Chính phủ và Bộ Tài chính lấy làm căn cứ để sửa các luật thuế, thì sẽ hoàn toàn không đủ nếu chỉ tìm cách để tăng thu như tinh thần dự luật này.

Ngân sách nhà nước luôn bội chi, nợ công đang tăng rất cao, đe dọa an toàn tài chính quốc gia, điều đó ai cũng biết.

Nhưng muốn cân bằng ngân sách, giảm nợ công, trước hết và trên hết Nhà nước phải giảm mức chi thường xuyên đang quá cao, chiếm tới trên 70% chi ngân sách, và thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), chứ sao lại chỉ tính tăng thu thuế từ dân?

Nhà nước và DNNN đang quản lý và sử dụng những nguồn tài sản lớn nhất của đất nước. Tập trung nâng cao hiệu quả, chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong sử dụng các nguồn tài sản đó, cùng với cải cách và nâng cao hiệu quả của bộ máy nhà nước là những cách cơ bản nhất và hoàn toàn nằm trong tay nhà nước để cải thiện đầu tư, chi tiêu công. Đảng và Nhà nước đã có chủ trương tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu DNNN, cải cách bộ máy nhà nước, nhưng kết quả thực hiện còn rất hạn chế, vậy thì phải thực hiện bằng được những chủ trương đó.

Không đặt mạnh vấn đề trách nhiệm của Nhà nước trong việc giảm chi, mà chỉ tập trung tăng thu của dân để đảm bảo ngân sách thì không được, không công bằng với dân.

Vấn đề thứ hai, tôi tán thành cách làm một luật để sửa 5 luật về thuế. Với cách làm này, Bộ Tài chính và nhà nước có thể tính toán lại, so sánh giữa các loại thuế hiện hành để điều chỉnh sao cho chính sách thuế được hợp lý, hiệu quả hơn, đảm bảo các mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thuế (là định hướng sản xuất và tiêu dùng, điều tiết thu nhập, tạo nguồn thu cho ngân sách).

Để đảm bảo chất lượng, khi làm luật này cần phải có báo cáo đánh giá tác động, được thực hiện một cách độc lập, khách quan, để làm rõ tác động kinh tế-xã hội của việc điều chỉnh thuế. Báo cáo đó phải làm rõ bốn vấn đề: Chi phí và lợi ích từ việc điều chỉnh 5 loại thuế; Ai được lợi, ai bị thua thiệt từ sự điều chỉnh này; Có cách nào tốt hơn để giải quyết vấn đề ngân sách so với tăng thuế không; Nếu vẫn cần điều chỉnh, thì điều chỉnh thế nào là tốt nhất cho tất cả các bên.

Nếu làm rõ 4 vấn đề này, tôi tin ta sẽ thấy:

Một là, chi phí cho tăng thuế là rất lớn, vì doanh nghiệp và người dân vốn đang chịu gánh nặng thuế, phí rất lớn rồi. Các điều tra cho thấy doanh nghiệp phải trả thuế, phí các loại lên tới khoảng 40% thu nhập của họ, còn người dân vừa phải chia sẻ gánh nặng đó cùng với doanh nghiệp (do doanh nghiệp sẽ tính vào giá thành và giá bán ra thị trường), vừa phải cõng bao nhiêu khoản nộp trực tiếp khác ngoài VAT. Hệ quả giảm sút sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân do thuế tăng chắc chắn sẽ tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế và nguồn thu cả trong ngắn hạn và trung, dài hạn. Trong khi đó, lợi ích cho ngân sách do tăng thuế sẽ có, nhưng đồng thời sẽ có thể chỉ khiến các cơ quan nhà nước thêm… yên tâm tiếp tục xài tiền của dân, mà không có động lực cải cách để cải thiện hiệu quả chi tiêu, đầu tư công. Vậy là ngay với nhà nước đã “lợi bất cập hại”.

Hai là, Ai được lợi và ai bị thua thiệt khi tăng thuế? Người được lợi, như đã nói trên, rõ ràng là nhà nước, dù rằng “lợi bất cập hại” và cái lợi đó không bền vững do không nuôi dưỡng được nguồn thu. Người bị thua thiệt thì rất rõ là đông đảo người dân-“nạn nhân” trực tiếp nhất của tăng thuế VAT, và doanh nghiệp. Trong số người dân phải chịu hệ quả của tăng thuế VAT, thì người thu nhập thấp sẽ bị thua thiệt nặng nề nhất, vì tăng “chỉ” 2% thôi cũng đã là một mức tăng đáng kể so với thu nhập và chi tiêu của họ rồi.

Cũng cần nhớ tăng VAT là đánh trên tất cả những người tiêu dùng trong xã hội, kể cả người già và trẻ em đấy, vì bây giờ hầu như sản phẩm nào chẳng phải mua trên thị trường và chịu thuế VAT. Và đông đảo người lao động chưa kịp mừng do tăng lương cơ bản, thì đã lo giá hàng hóa các loại sẽ tăng lên, tiền tăng thêm chưa kịp vào túi đã bị móc có khi còn nhiều hơn.

Ba là, có cách nào tốt hơn để giải quyết vấn đề ngân sách so với tăng thuế không? Rõ ràng là có, như đã nêu ở ý thứ nhất. Vấn đề là các cơ quan và cán bộ nhà nước có muốn làm không, hay lại coi tiết giảm chi tiêu, đầu tư công là “tự lấy đá ghè chân mình”, nên thích “ghè chân thiên hạ” hơn.

Ngoài ra, giảm những ưu đãi dành cho DNNN, bớt mức miễn giảm thuế quá nhiều cho một số dự án FDI, tăng thuế đánh vào các dự án kinh doanh bất động sản hay khai thác khoáng sản siêu lợi nhuận, cải cách việc hành thu để chống gian lận, thất thoát, tham nhũng về thuế cũng là những cách tốt để tăng thu, mà tổng mức thu tăng lên từ những việc này rất có thể còn lớn hơn tăng thuế VAT như dự kiến.

Bốn là, điều chỉnh thế nào là tốt nhất cho tất cả các bên? Với VAT, tốt nhất là không tăng, bởi thuế đó đã đủ cao, đã đóng góp rất lớn (27%) cho ngân sach, và nhất là thuế đó gây thua thiệt cho đa số dân cư. Phần VAT nhà nước thu thêm chắc chắn không thể bù đắp được cho việc mất lòng dân đâu.

Vấn đề thứ ba, Bộ Tài chính có đưa ra lập luận tăng thuế VAT vì mức thuế thông thường 10% của ta thấp, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong khi đó, có những thông lệ quốc tế khác sao ta không học: Bảo đảm quyền của người nộp thuế được tham vấn về chính sách thuế liên quan, được thông tin và giám sát thu-chi ngân sách để yên tâm rằng tiền thuế của họ được sử dụng hiệu quả, công bằng, hợp lý;

Nhà nước phải bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về thu-chi ngân sách trước dân;

Phần lớn các nước có kinh tế-xã hội phát triển tốt đều có ngân sách được sử dụng hiệu quả, theo đó nhà nước với bộ máy gọn nhẹ, có năng lực và hiệu suất cao, chỉ tập trung đầu tư và tiến hành những công việc đúng với chức năng đích thực của mình, không “lấn sân” thị trường và xã hội;

Nền tảng kinh tế và mức thu nhập của dân cư các nước rất khác nhau và khác ta nên khó so sánh, chưa kể nếu chỉ so sánh với các nước có mức VAT cao hơn mà không so với các nước có mức VAT thấp hơn là không sòng phẳng;

Nguyên lý chung về điều tiết thu nhập trong chính sách thuế ở các nước là thu cao ở người giàu để bù đắp cho người nghèo, nhưng một số chính sách thuế ở nước ta lại đi ngược với nguyên lý đó.

Mong sao ba ý kiến trên của tôi, cùng biết bao ý kiến khác đã và đang được mọi người nêu lên sẽ được Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội xem xét, và câu hỏi "Tăng thuế VAT - Vì Ai Thế?" sẽ được trả lời trong luật thuế sắp sửa đổi.

Theleader
NewVnNews

NewVnNews - “Phải chống cho được chủ nghĩa tư bản thân hữu. Nếu không quen quan chức chả làm ăn gì được thì cạnh tranh cái gì. Rõ ràng chủ nghĩa tư bản thân hữu là vấn đề rất lớn của thể chế. Và ở khung khái niệm bảo đảm môi trường cạnh tranh ở đây, không chống chủ nghĩa tư bản thân hữu không thể làm được”, TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói.

Ts Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Môi trường kinh doanh quan trọng nhất là tự do tài sản, tự do kinh doanh

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, Việt Nam từ khi đổi mới có mô hình gần giống với các nước Đông Bắc Á – nhà nước đề ra đường lối phát triển công nghiệp, can thiệp vào thị trường. Tuy nhiên, trong khi các nước Đông Bắc Á thành công thì Việt Nam lại thất bại. “Nguyên nhân là vì chúng ta không có một bộ máy hành chính công vụ chuyên nghiệp, thuộc giới tinh hoa và độc lập như các nước đó”, TS Dũng nói.

Bình luận về việc xây dựng Chính phủ kiến tạo, TS Dũng cho rằng, dù trong thời gian qua cụm từ này được nói đến nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa hình hành một khung khái niệm rõ rệt.

Nhìn vào các hoạt động của Chính phủ, của Thủ tướng, TS Dũng cho rằng có 4 bộ phận hợp thành Chính phủ kiến tạo – theo quan điểm của Việt Nam, gồm: cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm chi phí, đảm bảo cạnh tranh và cung cấp dịch vụ công chất lượng, giá rẻ.

Về cải thiện môi trường kinh doanh, TS Dũng nhận định, đó không chỉ là cải cách hành chính, cắt giảm thủ tục mà quan trọng nhất phải là tự do tài sản, tự do kinh doanh, tự do khế ước, đảm bảo hợp đồng được thực thi và khi có tranh chấp thì xử lý được nhanh, hiệu quả.

Tuy nhiên, hiện nay, việc đảm bảo quyền tự do tài sản vẫn còn nhiều khiếm khuyết, đặc biệt là quyền tự do tài sản đối với đất đai. 


Bên cạnh đó, TS Dũng cũng cho rằng, một môi trường kinh doanh tốt thì phải tránh được cho doanh nghiệp, người dân những rủi ro về chính sách. “Mua miếng đất xây nhà thì hôm sau quy hoạch ở đó, thế là phá sản luôn. Một nguyên tắc của pháp quyền để đảm bảo môi trường kinh doanh là chính sách pháp luật phải đoán định được. Nếu rủi ro chính sách quá lớn thì không ai có thể nói môi trường kinh doanh đó tốt được”, ông nói.

Không có người dân nước nào nuôi bộ máy quản trị lớn như dân ta

Bộ phận cấu thành thứ 2 của khái niệm Chính phủ kiến tạo là cắt giảm chi phí. Theo TS Dũng, việc cắt giảm chi phí phải được hiểu rất rộng, bởi chi phí nền quản trị quốc gia của chúng ta quá lớn. Không có dân nào nuôi một bộ máy quản trị lớn như dân ta. Nếu dân Mỹ nuôi 10 người công chức thì chúng ta phải nuôi trên 100 người. “Rõ ràng, việc cắt giảm chi phí không chỉ thực hiện với doanh nghiệp mà còn thực hiện cho cả người dân”.

Muốn cắt giảm chi phí, TS Dũng cho rằng phải có một bộ máy khác so với hiện tại. Cái khác đó là không nên có 2 bộ máy cũng làm chính sách. 

“Làm chính sách bên Đảng rồi lại làm chính sách bên Nhà nước, trùng lặp như vậy thì dân nào trả nổi mà nuôi? Tôi nghĩ phải nhất thể hóa giữa Đảng và Nhà nước để quy trình chính sách xảy ra ở một nơi thôi. Khi đó có thể cắt giảm chi phí ở chỗ, những tổ chức bán nhà nước thì trả về cho xã hội dân sự; những cái gì xã hội và doanh nghiệp làm được thì Nhà nước đừng ôm đồm”, TS Dũng phân tích. 

Một việc quan trọng khác là cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho người dân. Chi phí này hiện nay là khổng lồ. Ví dụ như ban hành quy định xe ô tô phải có bình chữa cháy. Ban đầu một bình xịt chỉ có giá 50.000 đồng, khi có lệnh ấy lập tức lên 150.000 – 200.000 đồng. Nhân lên sẽ thấy chi phí tuân thủ pháp luật của xã hội cho một quy định nho nhỏ như vậy là rất lớn.

Số lượng người ăn lương nhà nước quá lớn đang là gánh nặng cho ngân sách và xã hội

“Tôi ví dụ Luật Đầu tư công, Luật này với chi phí như vậy thì nó khủng khiếp luôn. Bây giờ Quốc hội đang chất vấn vì sao không giải ngân (vốn đầu tư công – PV) được. Không giải ngân được là vì tuân thủ cái luật đó. Chả có cách gì để giải cả! Đấy là chi phí tuân thủ pháp luật quá lớn. Và đây nên là đòi hỏi bắt buộc của chương trình lập pháp, phải tính xem chi phí này là bao nhiêu”, TS Dũng nói.

Thể chế chống độc quyền còn rất yếu

Chính phủ hiện nay đang thúc đẩy việc đảm bảo cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh. Nhưng việc thúc đẩy cạnh tranh đang vướng phải vấn đề độc quyền. Độc quyền hiện nay vẫn còn, gồm độc quyền tự nhiên, độc quyền nhà nước, độc quyền bán nhà nước. Nhưng điều đáng lo ngại hơn nữa là thể chế chống độc quyền hiện nay rất yếu. 

Vấn đề đáng lo nữa là chủ nghĩa tư bản thân hữu. TS Dũng cho rằng phải chống cho được chủ nghĩa tư bản thân hữu. “Nếu không có quen quan chức chả làm ăn gì được thì cạnh tranh cái gì. Rõ ràng chủ nghĩa tư bản thân hữu là vấn đề rất lớn của thể chế. Và ở khung khái niệm bảo đảm môi trường cạnh tranh ở đây, không chống chủ nghĩa tư bản thân hữu thì không thể làm được”.

Độc quyền, chủ nghĩa tư bản thân hữu đang là những chướng ngại lớn của Chính phủ kiến tạo

Ngoài ra, TS Dũng cũng nêu lên, để thực sự là Chính phủ kiến tạo, cần phải cung cấp các dịch vụ công chất lượng và giá rẻ.

“Vấn đề không chỉ là cải cách thủ tục mà quan trọng là thu hút được người tài vào lĩnh vực công. Bởi nếu anh cũng nói nghị quyết như quan chức chính trị thì đâu có giải quyết được gì. Người dân muốn xin cái giấy phép, anh chả biết cấp thế nào. Hay như dịch vụ về công lý, 10 năm không có, 10 năm xét xử vẫn cứ vòng vo thế thôi. Công lý bị trì hoãn là công lý bị chối từ. Và có thể nhiều người Việt chúng ta bị chối từ công lý đấy. 

“Một dịch vụ công để đảm bảo công lý là quan trọng nhất. Đây là cấu thành không thể thiếu của nhà nước kiến tạo”, TS Dũng kết luận.
NewVnNews



Việt Nam chính thức bị Lào, Campuchia vượt mặt
Có lẽ, nhận định Việt Nam bị Lào, Campuchia vượt qua không còn là dự báo mà đã dần thành hiện thực. Số liệu thống kê của WB và WEF cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đã bị 2 nước láng giềng vượt lên về năng lực cạnh tranh, trình độ sản xuất...

Theo các chỉ số thống kê xếp hạng của Ngân hàng Thế giới – World Bank và Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đang đối mặt với nguy cơ bị Lào và Campuchia vượt qua về cả năng lực cạnh tranh, khả năng vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, và trình độ sản xuất. 
Trước thềm hội nhập, Việt Nam đang gặp phải những vấn đề rất đáng lo ngại như đầu tư đào tạo nhân viên yếu; khả năng ứng dụng công nghệ mới và hấp thu công nghệ yếu; trình độ marketing  đều bị xếp sau Lào và Campuchia, chỉ hơn mỗi Myanmar.
Trong khi đó, Lào và Campuchia đang có những bước cải thiện mạnh mẽ trong mấy năm qua và hơn hẳn Việt Nam về sự năng động của doanh nghiệp, theo các thống kê mới nhất của Ngân hàng Thế giới cũng như Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
Những điều này có thể là dấu hiệu cảnh báo doanh nghiệp trong nước sẽ bị “đuối” và khó thoát ra khỏi vị thế mãi gia công, xuất khẩu thô chiếm tỷ trọng cao khi hội nhập.
Nếu xét về chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam đang được xếp trên 3 nước là Lào, Campuchia và Myanmar – nhóm có đóng góp khoảng 4% GDP toàn khối. Trong khi đó, nhóm có năng lực cạnh tranh cao hơn Việt Nam đang chiếm đến 88% GDP toàn khối.
Tuy nhiên, Việt Nam đang là quốc gia có chi phí thời gian chờ và nộp thuế cao nhất trong khu vực. Báo cáo của World Bank cho thấy, trong nhiều năm liền số giờ trung bình cho một doanh nghiệp nộp hồ sơ thuế và đóng được thuế là 872 giờ, gấp hơn 10 lần so với Singapore, gấp 2,5 lần so với Lào và hơn 5 lần so với Campuchia.
Xét về mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, hiện trình độ sản xuất của Việt Nam được WEF xếp sau cả Lào và Campuchia, chỉ cao hơn Myanmar.
Báo cáo cho thấy, doanh nghiệp ở Lào có năng lực đổi mới và sáng tạo; độ chuyên sâu cao hơn  doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, trình độ marketing của các doanh nghiệp ở Lào và Campuchia được WEF đánh giá cao hơn cả Việt Nam. 
Điểm quan trọng trong năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là đào tạo nhân viên và thu hút nhân tài, hiện Việt Nam vẫn bị xếp sau cả Lào và Campuchia.
Còn khoảng hơn 6 tháng nữa, Cộng đồng Kinh tế ASEAN – AEC sẽ có hiệu lực. 10 nước ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng kinh tế tự do với quy mô 2.400 tỷ USD (năm 2013) với 600 triệu người dân.
Giữa các nước thành viên trong cộng đồng AEC sẽ là dòng chảy hoàn toàn tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có kỹ năng (bước đầu với 8 nhóm ngành: bác sĩ, nha sĩ, y tá, kỹ sư, kiến trúc sư, kế toán, giám định và du lịch). 
Theo những chỉ số đưa ra, tương lai các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn lên không là một câu hỏi rất khó trả lời. Bởi, dù cho Việt Nam đang thu hút dòng vốn FDI từ các nơi đổ về thì các doanh nghiệp trong nước được gì từ những ưu đãi Chính phủ đã dành cho các doanh nghiệp FDI? 

Mặt khác, Việt Nam được xếp vào nhóm phát triển dựa vào thiên nhiên ban phát. Điều này một lần nữa khẳng định qua chỉ số chuyển giao công nghệ với FDI. So với cả Lào và Campuchia, FDI vào Việt Nam nhắm vào lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên.

Theo đó, WEF đánh giá chỉ tiêu chuyển giao công nghệ với FDI trong khối ASEAN của Việt Nam chỉ đứng trên Myanmar, lại một lần nữa được xếp thấp hơn Lào, Campuchia. 

Sao cái gì chúng ta cũng thua Lào, Campuchia?
Đó là câu hỏi nhức nhối mà nhiều người đặt ra khi chứng kiến Việt Nam ngày càng thua Campuchia và Lào về nhiều mặt, ngay cả ở những lĩnh vực mà chúng ta từng tự hào và có lợi thế vượt trội so với hai nước láng giềng.

Cha con ông Trần Quốc Hải - nông dân ở Tây Ninh đã sang Campuchia sửa chữa, chế tạo thành công xe bọc thép cho nước này và được trao tặng Huân chương vương quốc Campuchia.

Quả thật, nhận định Việt Nam bị Lào, Campuchia vượt qua không còn là dự báo, không còn là nguy cơ nữa mà đã thành hiện thực và cái danh sách thua kém ngày càng kéo dài ra. Đó quả là điều đáng xấu hổ!
Mới đây nhất, các nhà làm du lịch Việt thừa nhận rằng, cũng trong điều kiện khó khăn nhưng du lịch Campuchia vẫn trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ vì “họ làm chuyên nghiệp và hơn hẳn chúng ta về cách quảng bá, giới thiệu du lịch của họ tới các nước trên thế giới”.
Và còn hàng hoạt sự thua kém khác đã được các chuyên gia đề cập rất nhiều, ngày càng bộc lộ rõ rệt, chủ yếu do bản thân Việt Nam dậm chân tại chỗ hoặc tự làm mình kém đi trong khi các nước xung quanh không ngừng nỗ lực vươn lên:
Việt Nam xếp sau Lào về chỉ số năng suất sáng tạo. Chúng ta đi sau Campuchia về công nghiệp ô tô, thậm chí những lĩnh vực nông nghiệp có thế mạnh như lúa gạo cũng không hơn được họ. Campuchia đã tự chế đươc ô tô điều khiển bằng smartphone giá 100 triệu đồng, trong khi năng lực của Việt Nam bị đánh giá là …không làm nổi một cái ốc vít!
Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ Tướng Singapore từng nhận xét rằng “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”.

Campuchia và Lào - trước đây chưa từng được coi là đối thủ cạnh tranh về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đang vượt Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của Campuchia hơn Việt Nam và tính ổn định trong nền kinh tế cũng có phần vượt qua Việt Nam, do họ không lạm phát nhiều như chúng ta; Tốc độ internet 3G Việt Nam thua Lào và Campuchia; Việt Nam đang bị đánh giá thấp về nhân lực, giáo dục, số bằng sáng chế và ấn bản khoa học thấp hơn so với Lào…

Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ Tướng Singapore từng nhận xét rằng “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”.
Bản thân chúng ta cũng từng kỳ vọng Việt Nam sẽ là “con hổ”, “con rồng” dẫn đầu Đông Nam Á nhưng vì sao bây giờ thua kém cả Campuchia và Lào? Cái gì đã làm cho chúng ta tụt hậu nhanh như vậy? Lý giải như thế nào về chuyện Lào, Camphuchia được đánh giá là đi sau Việt Nam trong nhiều lĩnh vực lại có kết quả được đánh giá tốt hơn Việt Nam?
Câu trả lời, như nhiều chuyên gia đã chỉ ra, đó là nền kinh tế của hai nước Lào và Campuchia ít bị can thiệp hơn, thủ tục không rối rắm như Việt Nam. Mức độ mở cửa của họ lớn hơn chúng ta. Đào tạo nhân lực, thu hút nhân tài tốt hơn Việt Nam.
Lâu nay chúng ta thường tự hào tố chất người Việt Nam thông minh, sáng tạo nhưng các chỉ số từ nghiên cứu mới nhất đã nói rõ chỉ số năng suất sáng tạo của Việt Nam đứng sau Lào, năng suất lao động kém Campuchia. Bằng chứng là Việt Nam có nhiều tỷ phú hơn Lào, Campuchia nhưng sự giàu có đó đa phần không xuất phát từ sản xuất, sáng tạo mà chủ yếu từ bất động sản. Thế nên đến cái tăm, cái cúc áo, cái lược, cái kim, sợi chỉ… cũng phải nhập từ Trung Quốc.
Không chỉ tụt hậu trong hiện tại, nhìn về tương lai có nhiều chỉ dấu cho thấy Việt Nam sẽ thụt lùi ngày càng xa so với hai nước láng giềng. Bởi tác động tăng trưởng truyền thống của Việt Nam dường như “đã tới hạn”, nền kinh tế mất cân đối và kém hiệu quả khiến Việt Nam “rơi bẫy thu nhập trung bình”.
Các nhà đầu tư nước ngoài xếp hạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam ngang bằng với Campuchia và Lào, trong khi những chỉ số như tham nhũng, gánh nặng về quy định pháp luật của Việt Nam lại bị đánh giá là hơn cả Lào và Campuchia.
Sự thua kém này chính là sự phản ánh một phần tính hiệu quả của chính sách mà chúng ta đã và đang áp dụng. Nói cách khác, đó chính là tính thiếu hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đầu tư cho phát triển, nhất là đầu tư phát triển trí tuệ xã hội, đầu tư phát triển con người.
Điều này lý giải vì sao, thế giới đánh giá thấp Việt Nam về mặt chất lượng con người, khi chúng ta thiếu cơ chế chính sách khuyến khích, tạo động lực cho mọi người sáng tạo, phát huy hết tiềm năng của mình. Trong khi “đầu ra của tất cả các đầu tư không phải là con người tử tế, con người có trình độ thì chúng ta không có tương lai như tương lai cần có của con người”.
Nhiều người thường đổ lỗi cho khủng hoảng kinh tế, rủi ro xảy ra trên thế giới, chiến tranh… để biện minh cho sự tụt hậu và mất mát của mình. Thực tế, Việt Nam có quá nhiều thuận lợi nhưng không biết tận dụng, thậm chí còn tạo ra cơ chế làm khó cho chính mình, kiềm hãm sự phát triển. Từ bài học Singapore, Hàn Quốc, Nhật, Israel… đã chỉ ra rằng con người, chất xám, sự sáng tạo, thể chế hợp lý là những yếu tố đáng quý nhất của một quốc gia chứ không phải là tài nguyên thiên thiên.
Tương lai Việt Nam nói chung và nền kinh tế nói riêng có thể vươn lên không, hay tiếp tục thua xa các nước là một câu hỏi khó trả lời.
Nhưng có một điều chắc chắn: Nếu Việt Nam tiếp tục dựa vào việc đào tài nguyên lên bán, dựa vào lao động giá rẻ, đào tạo yếu, hiệu quả đầu tư thấp hoặc đầu cơ mới có thể làm giàu mà không tạo nền móng cho sự sáng tạo thì câu trả lời đã có sẵn.
Cha con ông Trần Quốc Hải - nông dân ở Tây Ninh đã sang Campuchia sửa chữa, chế tạo thành công xe bọc thép cho nước này và được trao tặng Huân chương vương quốc Campuchia. Ông nói: "Nếu cơ chế cho phép hỗ trợ ở mức như Chính phủ Campuchia thì chắc chắn người dân có thể sáng tạo ngay trên quê hương mình". Nông dân này từng nói: “Làm khoa học ở Việt Nam buồn, buồn lắm”.

“Chúng ta phải cảm thấy xấu hổ khi bị Lào, Campuchia vượt mặt“

Dù không quá lo lắng về việc thua Lào, Campuchia thông qua những chỉ số công bố của WB và WEF nhưng chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ cho rằng, đây là điều đáng xấu hổ và Việt Nam nên cẩn trọng, phải cải cách thực sự nền kinh tế hiện nay.
Theo các chỉ số thống kê xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB) và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đang đối mặt với nguy cơ bị Lào và Campuchia vượt qua về cả năng lực cạnh tranh, khả năng vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, và trình độ sản xuất. 
Trước thềm hội nhập, Việt Nam đang gặp phải những vấn đề rất đáng lo ngại như đầu tư đào tạo nhân viên yếu; khả năng ứng dụng công nghệ mới và hấp thu công nghệ yếu; trình độ marketing  đều bị xếp sau Lào và Campuchia, chỉ hơn mỗi Myanmar.
Trong khi đó, Lào và Campuchia đang có những bước cải thiện mạnh mẽ trong mấy năm qua và hơn hẳn Việt Nam về sự năng động của doanh nghiệp.
Liên quan đến những đánh giá này của WB và WEF, Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển.

Viet-Nam-bi-Lao-Campuchia-vuot-mat-that-dang-xau-ho-hinh-anh-1
 Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển

WB và WEF vừa đưa ra đánh giá Việt Nam thua kém Lào và Campuchia về năng lực cạnh tranh, trình độ sản xuất. Theo ông, mức độ tin cậy của nhận định này đến đâu ?

Tất nhiên là con số của những tổ chức danh tiếng như thế này rất đáng tin và rất có uy tín. Những con số họ đưa ra được cả thế giới sử dụng và công nhận chứ không riêng gì mình. Họ cũng khảo sát nhiều quốc gia trên thế giới chứ không riêng gì nước mình.
WB và WEF cho rằng, mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, trình độ sản xuất của Việt Nam xếp sau cả Lào và Campuchia. Ông nghĩ thế nào trước những đánh giá này? 
Đây là thực tế đáng xấu hổ nhưng chúng ta phải chấp nhận, vì thông tin đưa ra dựa trên kết quả khảo sát rất kỹ lưỡng của họ. Trước nay chúng ta vẫn dùng con số của họ thì bây giờ cũng phải nhìn thẳng vào thực tế đó.
Và điều này cũng dễ hiểu vì Lào là nước nhỏ, làm ăn có nhiều chỗ còn lạc hậu nhưng bộ máy hành chính công của Lào khá đơn giản và nhẹ nhàng chứ không cồng kềnh như chúng ta. Do đó họ giải quyết thủ tục cũng khá nhanh gọn chứ không rườm rà như chúng ta, nên tiến độ trong công việc chung cũng được đẩy nhanh hơn.
Về những vấn đề như thể chế, chính sách… Lào cũng thực hiện nhanh hơn vì người họ ít, bộ máy họ gọn gàng hơn. Còn nếu công bằng mà nói thì Lào cũng chưa phải là hiện đại hay văn minh hơn Việt Nam.
Riêng với Campuchia, có nhiều vấn đề liên quan đến thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh họ làm rất tốt và có phần còn khá hơn chúng ta. Hiện nay Campuchia cũng thu hút được rất nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư vào nước họ.
Do đó tốc độ tăng trưởng của Campuchia hơn Việt Nam mà tính ổn định trong nền kinh tế cũng có phần vượt qua Việt Nam, họ không lạm phát nhiều như chúng ta.
Theo ông, cụ thể là doanh nghiệp Việt Nam đang yếu kém những mặt gì so với nước bạn? 
Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên nguồn vốn ít ỏi, thiếu công nghệ, năng lực cạnh tranh không cao, cách quản trị doanh nghiệp cũng không chất lượng.
Điều đó thể hiện ở việc hạn chế trong khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng, đáp ứng tốt thị hiếu người tiêu dùng với mức giá hợp lý, cũng như những yếu tố khác, như quảng cáo, tiếp thị, xây dựng thương hiệu, tổ chức, quản lý mạng lưới phân phối ... còn nhiều hạn chế so với các doanh nghiệp nước ngoài
Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa thực sự đoàn kết để cùng nhau phát triển. Song song với đó, chúng ta còn thiếu đội ngũ quản trị có trình độ cao. Tỷ lệ những ông chủ doanh nghiệp có hiểu biết về pháp luật, thị trường, kinh nghiệm, tầm nhìn chiến lược không nhiều.
Ngoài những thua kém mà WEF đã chỉ ra, theo ông Việt Nam còn thua Lào và Campuchia ở những lĩnh vực nào nữa?
Báo chí cũng đã dẫn ra nhiều rồi. Chúng ta đã đi sau Campuchia về công nghiệp ô tô, về tốc độ thu hút FDI, thậm chí những lĩnh vực nông nghiệp có thế mạnh như lúa, gạo cũng không hơn được họ. Hiện nay là mức độ cạnh tranh doanh nghiệp và trình độ sản xuất cũng được WB và WEF dẫn ra.
Vậy đâu là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự tụt hậu của Việt Nam, thưa ông?
Tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do bộ máy hành chính của chúng ta quá cồng kềnh và chúng ta rất chậm chạp trong việc cải cách. Doanh nghiệp của Lào hay Campuchia ít hơn của Việt Nam, nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại bị doanh nghiệp FDI chèn ép nhiều trong khi doanh nghiệp Nhà nước hiện nay lại đa phần chậm cải cách, sức ì lớn.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa vực dậy được khu vực doanh nghiệp tư nhân đủ mạnh, nên toàn bộ hệ thống kinh tế chúng ta còn nặng nề.
Còn ở Campuchia, doanh nghiệp FDI vào nhiều nhưng doanh nghiệp tư nhân của họ không trì trệ, họ cũng không có nhiều doanh nghiệp Nhà nước nên có thuận tiện. 
Với Lào thì ít doanh nghiệp Nhà nước hơn hẳn, doanh nghiệp FDI cũng chưa nhiều, khu vực doanh nghiệp tư nhân có nhiều cơ hội phát triển vì chưa phải cạnh tranh hay bị chèn ép gì lớn.
Bên cạnh đó, việc các nhóm lợi ích, tham nhũng ở những nước này cũng không nhiều như Việt Nam. Cho nên họ phát triển nhanh là đương nhiên.
Chúng ta cải cách chậm, bộ máy hành chính quá nặng nề. Còn việc tham nhũng thì ở Campuchia hay ở Myanmar cũng có. Không có nghĩa cứ tham nhũng thì họ không làm được việc. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thẳng thắn là tham nhũng ở Việt Nam đang rất đáng ngại.
Tôi cho rằng, việc Lào hay Campuchia vượt qua Việt Nam về một số chỉ số là có lý, đã được cảnh báo từ rất lâu. Còn tốc độ tăng trưởng của Lào hiện nay cũng không kém Việt Nam bao nhiêu. Lâu nay Việt Nam cứ tự hào đứng đầu tăng trưởng trong nhóm 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar nhưng bây giờ, chúng ta đã có phần chững lại.
Các con số thống kê đã chỉ ra, trình độ sản xuất và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện đã xếp sau Lào và Campuchia, chỉ đứng trên Myanmar. Nếu cứ tiếp tục tình hình này thì còn thua cả Myanmar.
Tất nhiên là so về quy mô nền kinh tế hay GDP thì ta vẫn đang hơn 3 nước kia, tuy nhiên ta đang chậm lại trong tốc độ tăng trưởng và khoảng cách tăng trưởng đối với họ đang được kéo ngắn lại.
Tuy nhiên, nói rằng chúng ta tụt hậu về khoảng cách phát triển so với các nước thì cũng không phải là đến ngay, mà Lào và Campuchia cũng cần phải có một sự phát triển nhất định nữa. Họ có thể phát triển để vượt ta về thu nhập bình quân đầu người chứ rất khó để vượt ta về quy mô nền kinh tế.
Theo ông, chúng ta cần phải làm gì khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực?
Thủ tướng đã chỉ đạo đến năm 2016 Việt Nam phải vươn lên, đứng vào Top trên trong khu vực chứ không phải Top 4 nước yếu nhất như hiện nay. Sự vươn này là vươn lên về môi trường kinh doanh chứ không phải là toàn bộ nền kinh tế. Vì toàn bộ nền kinh tế nhảy lên được Top trên thì còn mệt.
Khi môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, vươn lên Top trên thì sự phát triển của nền kinh tế của chúng ta cũng tốt hơn rất nhiều.
Nhưng cũng nói thêm, đấy là mệnh lệnh của Thủ tướng, nhưng có thực hiện được hay không là do bộ máy cấp dưới thực hiện, nhất là trong bối cảnh bộ máy hành chính của chúng ta hết sức nặng nề như hiện nay.
Các doanh nghiệp cũng phải nhận thức ra điều đó, vì thua ai chứ thua Lào và Campuchia thì đáng xấu hổ quá.
Thứ hai là những điều gì mà Chính phủ đã ban hành về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thì doanh nghiệp cũng phải đồng hành với Chính phủ để thực hiện cho tốt. Chứ không riêng gì một phía từ Chính phủ mà làm được. Doanh nghiệp cứ tìm cách luồn lách, thân hữu, quan hệ để móc ngoặc thì chúng ta rất khó tiến lên.
Về phần doanh nghiệp Nhà nước cần phải cố gắng cổ phần hóa cho nhanh, đổi mới quản trị doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải được Nhà nước quan tâm nhiều hơn, có chính sách rồi nên phải cố thực hiện cho được. Vì hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn liếng, công nghệ, thị trường…
Phải có sự hỗ trợ của các hiệp hội, trong khi các hiệp hội như Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay… hoạt động không hiệu quả.
Doanh nghiệp FDI thì lấn át chúng ta rất dữ dội, nên bên cạnh việc thu hút đầu tư, chúng ta cũng phải giám sát chặt chẽ họ. Không chỉ chính quyền Trung ương mà chính quyền địa phương cũng sát sao. Từng khu vực doanh nghiệp đều có vấn đề còn tồn tại, cần phải mổ xẻ giải quyết chứ không chung chung được.
Mặt khác, chúng ta đã nói nhiều quá rồi, giờ đến lúc phải hành động thôi.



'Việt Nam phải nhìn thẳng vào thực tế đang thua Lào, Campuchia'

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Việt Nam cần thẳng thắn nhìn vào thực tế đang thua Lào, Campuchia về năng lực cạnh tranh, và phải cố gắng khắc phục những điểm yếu để doanh nghiệp Việt có thể phát triển

'Việt Nam phải nhìn thẳng vào thực tế đang thua Lào, Campuchia'
Theo các chỉ số thống kê xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB) và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đang đối mặt với nguy cơ bị Lào và Campuchia vượt qua về cả năng lực cạnh tranh, khả năng vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, và trình độ sản xuất. 
Trước thềm hội nhập, Việt Nam đang gặp phải những vấn đề rất đáng lo ngại như đầu tư đào tạo nhân viên yếu; khả năng ứng dụng công nghệ mới và hấp thu công nghệ yếu; trình độ marketing  đều bị xếp sau Lào và Campuchia, chỉ hơn mỗi Myanmar.
Trong khi đó, Lào và Campuchia đang có những bước cải thiện mạnh mẽ trong mấy năm qua và hơn hẳn Việt Nam về sự năng động của doanh nghiệp.
Liên quan đến những đánh giá này của WB và WEF, Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: "Việt Nam cần phải nhìn thẳng vào thực tế đang thua
Lào, Campuchia..."

WB và WEF vừa đưa ra đánh giá Việt Nam thua kém Lào và Campuchia về năng lực cạnh tranh, trình độ sản xuất. Bà có nhận định gì về đánh giá này và theo bà, mức độ uy tín của những con số này ra sao?
Tôi nghĩ chúng ta nên tin tưởng trong những nguyên tắc, tiêu chí chung trong con số thống kê của họ. Đây là những tổ chức lớn, có uy tín cao trên thế giới và thông tin họ đưa ra là khách quan.  
Thông thường, khi người ta nói tốt về mình thì chúng ta lạc quan chấp nhận ngay, nhưng khi có những con số thống kê tiêu cực về chúng ta thì lại băn khoăn nghi ngại về tính khách quan thì không nên.
Tuy nhiên, những chỉ số chung của họ đưa ra rất đúng trên thế giới nhưng không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác với một số quốc gia mà chưa hoàn thiện về kinh tế thị trường như Việt Nam. Đôi khi những con số thống kê cũng không phản ánh hết được thực trạng của nền kinh tế.
Ví dụ như chỉ số tín dụng, Việt Nam được xếp hạng rất cao trong khi tín dụng lại là một trong những khó khăn rất lớn của Việt Nam. Hoặc việc đăng kí kinh doanh ở Việt Nam hiên nay cực kì thuận lợi nhưng các con số thống kê quốc tế lại đánh giá chúng ta rất thấp ở vấn đề này.
Việc Việt Nam bị Lào, Campuchia vượt qua về nhiều lĩnh vực không phải bây giờ mới nói, mà nguy cơ này đã được đề cập từ rất lâu. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không khắc phục được. 
Doanh nghiệp Lào và Campuchia vượt qua Việt Nam về trình độ sản xuất lẫn chỉ số năng lực cạnh tranh cho thấy những nỗ lực của họ trong suốt thời gian qua đều có hiệu quả và rất đáng ghi nhận.
Theo bà, cụ thể là doanh nghiệp Việt Nam đang yếu kém những mặt gì so với nước bạn? 
Những điều này thì báo chí cũng đã dẫn ra khá nhiều. Nhiều dấu hiệu như tăng trưởng nền kinh tế, thu hút FDI, công nghiệp ô tô, thậm chí nông nghiệp như lúa gạo... cho thấy Việt Nam đang thua kém Campuchia.
Nhất là, công nghiệp ô tô Việt Nam bắt đầu làm trước Campuchia nhưng hiện nay họ có ô tô, mình chưa có và chưa biết đến khi nào mới có. Còn lúa gạo đúng là thế mạnh của mình, nhưng mình cũng đang thua họ.
WB đã công bố dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Campuchia, cho rằng Campuchia trong năm 2014 sẽ có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á trong khi Việt Nam được đánh giá là "sẽ tăng trưởng với tốc độ khiêm tốn vào khoảng 5,5%".
Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, năm 2013, trong số các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được khảo sát có đến 54% doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam đã từng cân nhắc đầu tư vào Trung Quốc, Thái Lan, đặc biệt là Campuchia và Lào - đất nước trước đây chưa từng được coi là "đối thủ" cạnh tranh về vốn đầu tư FDI đối với Việt Nam thay vì con số 32% như thời điểm năm 2011, năm 2012.
Môi trường kinh doanh, bộ máy hành chính của họ tốt hơn chúng ta nhiều nên việc vận hành nền kinh tế cũng không nặng nề, chậm chạp.
Vậy đâu là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự tụt hậu của Việt Nam, thưa bà?
Về quy mô kinh tế thì không phải lo chuyện Lào với Campuchia có thể vượt qua được Việt Nam, đây là điều cực kì khó khăn. Quy mô kinh tế của Lào và Campuchia đều rất nhỏ. 
Tuy nhiên, cạnh tranh kinh tế trong thời đại ngày nay không đơn giản chỉ là quy mô kinh tế, mà tính nhiều hơn về chất lượng. Chất lượng tăng trưởng, chất lượng của doanh nghiệp, tính cạnh tranh của doanh nghiệp…
Lào và Campuchia chắc chắn sẽ không thể hoạt động theo cách của Việt Nam, là làm rất nhiều ngành với quy mô hoành tráng. Họ tập trung vào một số ít ngành có thế mạnh thì chất lượng hoạt động của doanh nghiệp họ tốt hơn Việt Nam là điều không phải là khó. Theo đó, về năng lực cạnh tranh họ hoàn toàn có thể vượt Việt Nam.
Năng lực cạnh tranh không phụ thuộc quá nhiều về quy mô kinh tế, quan trọng quy mô đó có phù hợp với họ hay không, doanh nghiệp của họ có điều kiện hoạt động hiệu quả hay không. Ví dụ như các nước như Singapore hay một số nước Bắc Âu, xét về quy mô kinh tế không lớn nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh của họ luôn được xếp vào top đầu.
Các tổ chức đánh giá theo bối cảnh của nền kinh tế ở giai đoạn trước. Bối cảnh kinh tế lúc đó đang rất nhiều khó khăn, mỗi năm có hàng vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản, có tới 69% doanh nghiệp làm ăn không có lãi. Đó là bước lùi nhất định trong mặt bằng doanh nghiệp Việt Nam thời gian vừa qua nên con số thống kê đã phản ánh tình hình doanh nghiệp trong giai đoạn này,
Trong khi đó, Lào và Cam-pu-chia đều được đánh giá cao hơn trên các bảng xếp hạng. Mức tăng trưởng GDP của Lào và Campuchia tăng nhanh hơn Việt Nam. Lào và Campuchia trong vài năm gần đây cũng có nhiều cải cách kinh tế theo hướng thị trường nên thu hút được khá nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Khu vực tư nhân nước họ cũng có những chuyển biến mạnh mẽ. Tuy nhiên, những con số thống kê về doanh nghiệp tư nhân ở đây cũng không phản ánh hết được đâu là khu vực tư nhân tiên tiến hơn, mạnh hơn như ở khối FDI và đâu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác trong nước.
Sự tăng trưởng của Lào và Campuchia bên cạnh những cải cách trong nước thì nguồn vốn FDI cũng giúp họ đạt được nhiều tăng trưởng. Bên cạnh đó, song song với cải cách kinh tế thì một điều cũng khá quan trọng là bộ máy hành chính của Lào và Campuchia đơn giản hơn chứ không cồng kềnh như ở Việt Nam.
Thống kê cho thấy, Việt Nam đang là quốc gia có chi phí thời gian chờ và nộp thuế cao nhất trong khu vực. Báo cáo của World Bank cho thấy, trong nhiều năm liền số giờ trung bình cho một doanh nghiệp nộp hồ sơ thuế và đóng được thuế là 872 giờ, gấp hơn 10 lần so với Singapore, gấp 2,5 lần so với Lào và hơn 5 lần so với Campuchia. 
Môi trường kinh doanh ở Lào và Campuchia được đánh giá tốt hơn, bằng chứng là nhiều doanh nghiệp Việt Nam làm ăn ở nước ngoài đã thu được rất nhiều thành công. 
Việt Nam cần cải thiện môi trường kinh doanh rất nhiều vì đây là khâu đang rất yếu. Thủ tướng cũng đã chỉ đạo Việt Nam phải cải thiện môi trường kinh doanh, trở nên tốt hơn, xếp vị trí cao hơn trong khu vực.
Theo bà, chúng ta cần phải làm gì khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực?
Việt Nam cần thẳng thắn nhìn vào những điểm yếu để khắc phục. Ví dụ như cải cách bộ máy hành chính bớt cồng kềnh, giải quyết công việc nhanh gọn hơn. Việt Nam bị phàn nàn là có số giờ nộp thuế thuộc loại cao nhất thế giới thì cần phải giảm đi sự lãng phí thời gian và tiền bạc trong những khâu thủ tục thế này.
Năng lực đổi mới sáng tạo cũng là một cái chốt cực kỳ quan trọng. Việt Nam đang thua Lào về độ chuyên sâu trong hoạt động của doanh nghiệp. Đây cũng là điều cần phải chú ý thay đổi, có sự chung tay của nhiều nhà khoa học, Bộ khoa học cùng với các Bộ ngành khác, có chính sách khuyến khích sáng tạo.
Trục then chốt nhất để thay đổi chỉ số cạnh tranh của doanh nghiệp chính là Nhà nước và doanh nghiệp, phải tích cực thay đổi từ cả hai phía. Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích, cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh…
Còn phía Nhà nước phải tích cực cải thiện môi trường kinh doanh vì doanh nghiệp có phát triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh. Doanh nghiệp Việt hoạt động trong môi trường không thuận lợi như các nước xung quanh thì cũng là nguyên nhân làm giảm đi sự cạnh tranh của họ.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải nhìn nhận lại mình, không thể cứ đổ lỗi cho Nhà nước hay môi trường kinh doanh làm cho mình kém phát triển. Yếu kém của doanh nghiệp hiện nay là công nghệ, nguồn vốn, năng lực quản trị… kết hợp với những khó khăn khách quan như môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính rườm ra khiến họ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn này. Khắc phục được những điểm trên thì doanh nghiệp Việt sẽ phát triển.

Tổng hợp (Một thế giới)


MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget